Bóng quạ chiều thu
1. Matsuo Basho (1644-1694) là một nhà thơ lỗi lạc của Nhật Bản. Là người khai
sáng thể loại Haiku vỏn vẹn 17 âm tiết, Basho đã trở nên một vị thánh thi với
hơn 2000 môn đệ và hàng triệu người hâm mộ phong cách Haiku trên toàn thế giới.
Basho
chuyên đặc tả cảnh vật với cái nhìn đậm chất Thiền. Ông có hơn 1.000 bài Haiku
nói về cảnh vật, côn trùng, thời tiết… Bài nào cũng bật lên được bản sắc cô
đơn, tịch liêu của đối tượng và phơi bày cho người đọc thấy được tính vô thường
trong chi tiết được đặc tả.
Bài thơ con
quạ là một ví dụ điển hình:
Trên cành khô tiều tụy
Bóng quạ
Rũ chiều thu.
Basho nhìn
con quạ là một chiếc bóng rũ, như một nhiếp ảnh gia chuyên chụp ảnh ngược sáng
khiến đối tượng trở thành một cái bóng của chính mình. Cái bóng đó được đặt
trên một cành khô tiều tụy giữa mùa thu lá rụng. Ông chỉ nói bấy nhiêu đó, với
một ngôn ngữ hạn chế và cô đặc như như một loại đường mật, nhưng hương thơm của
nó lan tỏa đến tận bên trong tâm hồn người đọc.
Basho cũng
đã từng sử dụng con ếch, con chuồn chuồn, tuyết trắng,… để cô đặc ý tưởng của
mình, khiến những bài Haiku của ông như một công án vắn tắt là say mê bao nhiêu
hành giả.
Cũng giống
như trong pháp hội Linh Sơn, Phật chỉ đưa cành hoa trước mặt đại chúng, là đủ
để bày tỏ đại ý Phật pháp. Cành hoa cô đặc pháp giới. Cành hoa chứa 49 năm hành
đạo với 5 thời thuyết giáo. Cành hoa là đại ý Phật pháp, là một loại Haiku độc
đáo nhất. Cuối cùng chỉ có Ca Diếp mĩm cười!
2. Trong Tam Quốc Diễn Nghĩa của La Quán Trung, Tào Tháo (155-220) cũng nhìn thấy con quạ, nhưng cái
nhìn của Tào Tháo cạn cợt bên ngoài nên rốt cuộc điềm mà quạ mang đến trước
trận đánh Xích Bích, Tào Tháo không thể nhận ra được.
Xích Bích
là một trận đánh lớn vào mùa đông năm Kiến An thứ 13 (khoảng năm 208-209) giữa
liên quân Tôn Quyền - Lưu Bị và Tào Tháo trên sông Trường Giang, gần thành phố
Nhạc Dương ngày nay. Trước trận đánh, Tào Tháo tự tin về chiến thắng của mình
và tỏ thái độ khinh địch, ngồi uống rượu ngâm thơ trên thuyền. Đang lúc đang
uống rượu thì trên không xuất hiện một con quạ đen đang bay về phương Nam với nhiều
tiếng kêu thảng thốt. Liền đó, ông liền đưa con quạ vào nội dung bài thơ:
……………………..
Nguyệt minh tinh hy
Ô thước nam phi
Nhiễu thụ tam táp
Hà chi khả y?
Dịch:
Sao thưa trăng sáng
Quạ bay về nam
Ba vòng cây lượn
Đậu cành nào đây?
Rõ ràng Tào
Tháo chỉ chờ đợi xem quạ đậu cành nào trên cột buồm mà không “thấy” được quạ
bằng cả tâm hồn mình, khác hẵn với Basho: “Trên
cành khô. Bóng quạ. Rũ chiều thu”. Có thể hiểu được tính cách bất an trong
lòng Tào Tháo trước trận Xích Bích ra sao qua mấy câu thơ nhân lúc chờ xuất
quân.
Trước trận
đánh này, Tào Tháo mắc mưu Tôn Quyền, đã trảm 2 viên tướng Thủy quân cực giỏi,
lại nghe lời kẻ dụng binh kém, cột hàng trăm chiến thuyền với nhau bằng dây
xích sắt. Kết quả là tướng trá hàng Hoàng Cái dùng hỏa công đốt cháy toàn bộ số
thuyền trên Trường Giang. Tào Tháo thua trận, rút chạy về Hứa Xương.
3. Quạ cũng đã xuất hiện trong một bài thơ nổi tiếng
của Trương Kế (khoảng năm 756, đời
vua Đường Túc Tông), bài Phong Kiều dạ bạc, trong đó tác giả
tuy không thấy quạ, nhưng đã nghe được tiếng kêu thảng thốt của quạ vào một đêm
sương đầy trời và mặt trăng cũng sắp lặn.
Nguyệt
lạc ô đề sương mãn thiên
Giang
phong ngư hỏa đối sầu miên
Cô Tô
thành ngoại Hàn San tự
Dạ bán
chung thanh đáo khách thuyền
Dịch:
Quạ kêu,
trăng lặn, sương rơi
Lửa
chài, cây bãi, đối người nằm co
Con
thuyền đậu bến Cô Tô
Nửa đêm
nghe tiếng chuông chùa Hàn San.
Trương Kế khi làm bài thơ này là một sĩ tử trên đường thi rớt trở về
nhà. Đêm nằm trên chiếc thuyền chài ở bến Phong Kiều, ông nghe được tiếng quạ
kêu, tiếng chuông chùa và thấy được trăn lặn, sương rơi. Đó là trạng thái của
người tĩnh thức, người đang lắng nghe thân phận mình và thân phận người. Trạng
thái lắng nghe của Trương Kế không khác gì Siddhartha lắng nghe tiếng “Ohm” của
dòng sông rồi từ đó chứng ngộ được Nhĩ Căn Viên Thông rồi trở thành người giác
ngộ (Câu chuyện của dòng sông- Hermann
Hesse). Chính ở chỗ định huệ viên mãn mà ý thơ được bật ra nên bài Phong Kiều
dạ bạc được khắc trên đá lưu tại chùa Hàn San đến ngày nay.
Từ con quạ của Matsuo Basho đến con quạ của Tào Tháo
và con quạ của Trương Kế, đều là những con quạ bay trên bầu trời lãng du và gửi
một thông điệp nào đó đến thiên nhiên. Nhưng Basho thấy được quạ bằng cái nhìn
toàn giác, Trương Kế nghe được tiếng quạ bằng Nhĩ Căn Viên Thông, còn Tào Tháo
chỉ thấy được cái bóng bay lượn mà không trực nhận được chút thông điệp nhỏ
nhoi nào từ chú quạ cô đơn kia! Chính vì thế mà Tào Thào thua trận trước đôi
quân tinh nhuệ của Chu Du, còn Matsuo Basho chiến thắng được và làm chủ được
cái nhìn của mình, trong khi đó Trương Kế tuy là sĩ tử hỏng thi nhưng từ hơn 1.000
năm trước, đã để lại đời một bài thơ bất hủ từ sự lắng nghe trong thinh lặng,
rỗng rang.
Phan Cát Tường



0 Nhận xét:
Đăng nhận xét
Đăng ký Đăng Nhận xét [Atom]
<< Trang chủ