(行 深 般 若)
“Hành thâm
Bát Nhã” là 4 chữ thứ 6,7,8,9 trong câu đầu tiên (Quán Tự Tại Bồ Tát hành thâm Bát
Nhã Ba la Mật đa thời chiếu kiến ngũ uẩn giai không, độ nhất thiết khổ ách)
của Bộ Bát Nhã tinh yếu chỉ vỏn vẹn 260 chữ, được rút gọn từ bộ Đại Bát Nhã gồm
600 quyển mà đức Phật đã thuyết trong Ngũ thời thuyết giáo của Ngài.
Bát Nhã là
bản kinh nhật tụng tinh yếu mà hầu hết các thời công phu trong nhà chùa đều
tụng đọc.
“Hành thâm
Bát Nhã” thường được hiểu đơn giản là đi sâu vào pháp Bát Nhã để giải thoát đau
khổ.
Nhiều học
giả đánh giá đây là cụm từ căn bản
của kinh Bát Nhã và cũng là cụm từ gây
tranh cải nhiều nhất trong giới nghiên cứu Phật học.
Căn bản là
vì hành giả phải “Hành thâm Bát Nhã” thì mới có thể chiếu kiến ngũ uẩn giai không, từ đó vượt qua mọi khổ ách.
Gây tranh cải
là vì mọi người mất công đổ xô đi tìm cái pháp môn mà Phật gọi là Bát Nhã Ba La
Mật để mà cố công hành trì.
Nhưng nhan
nhãn trong lịch sử Thiền tông, chúng ta thấy rằng chư Tổ đã giải thích cho học
trò của mình rằng Bát Nhã không phải là một pháp môn gì cả, mà chỉ là cái Trí
tuệ mà ai cũng đều tự có, nhưng ít ai nhận ra nó thôi.
LỬA NẰM SÂU TRONG TRO
Câu chuyện
truyền lửa giữa vị thầy là Bách Trượng Hoài Hải (720-814) với học trò là Qui
Sơn Linh Hựu (771-853) như sau:
Một lần, Bách Trượng hỏi Sư: “Ngươi đem được lửa đến
chăng?” Sư thưa: “Đem được.” Bách Trượng hỏi tiếp: “Lửa đâu?” Sư cầm một nhánh
cây làm vẻ thổi lửa. Bách Trượng gạt qua và bảo: “Như sâu đục vỏ cây. Nhìn thì
như chữ nhưng chẳng có nghĩa gì!”
Hôm khác, Sư vừa đứng hầu, Bách Trượng liền hỏi: “Ai?”
Sư thưa: “Con, Linh Hựu!” Bách Trượng bảo: “Ngươi vạch trong lò xem có lửa
chăng?” Sư vạch ra thưa: “Không có lửa.” Bách Trượng đứng dậy, đến vạch sâu
trong lò được chút lửa, đưa lên chỉ Sư bảo: “Ngươi bảo không, cái này là cái
gì!” Sư nghe vậy hoát nhiên đại ngộ.
Bách Trượng bảo: “Đây là con đường rẽ tạm thời. Kinh
nói “Muốn thấy Phật tính phải quán thời tiết nhân duyên, thời tiết đã đến như
mê chợt ngộ, như quên rồi nhớ lại, mới biết tĩnh vật của mình không từ bên
ngoài được.” Cho nên Tổ sư bảo “Ngộ rồi đồng chưa ngộ, không tâm cũng không
pháp.” Chỉ là không tâm hư vọng phàm thánh. Xưa nay tâm pháp nguyên tự đầy đủ. Nay ngươi đã vậy, tự khéo gìn
giữ.”
Trong câu
chuyện này, “lửa” được ví như Trí huệ Bát Nhã, người bới tro tìm lửa ví như
hành giả tu tập sâu vào trong đại định để tiếp cận với Trí huệ này. Hai chữ
hành thâm (行 深) mang một ý nghĩa hết sức đặc biệt, như là một người lặn sâu dưới
đáy nước. Trong ngôn ngữ Hán, chữ Thâm có bộ Mộc đi sau bộ Thủy, diễn tả hình ảnh
một người chống cây sào sâu xuống nước để có thể vượt qua bên kia bờ sông.
Vậy, Tổ Bách Trượng đã khéo giải thích cho người học trò mình biết rằng
Trí huệ nằm bên dưới tầng nhận thức, không thể tu tập qua loa mà có thể thấy được
Bát Nhã, bằng hình ảnh người bới tro tìm lửa. Ai cất công bới sâu thì thấy lửa,
vì lửa luôn luôn có mặt bên dưới lớp tro tàn.
LỬA NẰM SÂU TRONG CÂY
Cùng một
trực nhận như Tổ Bách Trượng Hoài Hải, thiền sư Việt Nam Khuông Việt (匡越, 933- 1011) - dòng Vô Ngôn Thông, vị Tăng Thống đầu
tiên của Phật giáo Việt Nam dưới triều Đinh Tiên Hoàng - đã truyền lại bài kệ nổi tiếng cho đệ tử
trước khi thị tịch.
木中原有火
有火火還生
若謂木無火
鑽遂何由萌
Mộc trung nguyên hữu hoả
Hữu hoả, hoả hoàn sinh
Nhược vị mộc vô hoả
Toản toại hà do manh.
Trong cây vốn có lửa
Có lửa, lửa mới bừng
Nếu bảo cây không lửa
Cọ xát do đâu bùng.
Đại sư
Khuông Việt cũng đã tỏ ngộ được chân lý “lửa
vốn sẵn trong cây” nên Ngài chỉ cần khuyên dạy đệ tử cần phải công phu cọ xát cho đến khi lửa bừng
lên. Công phu cọ xát này không nằng ngoài ý nghĩa “hành thâm Bát Nhã” mà đức
Phật đã từng thuyết.
Ở đây, một
lần nửa cho chúng ta thấy rằng Bát Nhã
không phải là pháp tu mà chính là cái mà chúng ta tự có. Muốn nhận ra nó,
hành giả phải đi sâu vào Thiền định thì mới có thể ngộ ra mọi sự tìm kiếm bên
ngoài đều vô ích.
THỦY PHONG TỈNH - QUẺ CỦA BÁT NHÃ TÂM KINH
Thủy Phong
Tỉnh, quẻ thứ 48 trong kinh dịch nói như sau:
Tỉnh. Cải ấp bất cải Tỉnh. Vô táng vô đắc. Vãng lai
tỉnh tỉnh. Ngật chí. Diệc vị duật tỉnh. Luy kỳ bình. Hung. (井.改 邑 不 改 井.無 喪 無 得.往 來 井 井.汔 至.亦 未 繘 井.羸 其 瓶.凶)
Nhân
tử Nguyễn Văn Thọ, Giáo sư Triết Đại học Văn khoa Saigon
dịch quẻ như sau:
Tỉnh là nước giếng nuôi người,
Rời làng, rời ấp, chẳng rời giếng đi.
Dùng nhiều, nước chẳng suy vi,
Không dùng, nước vẫn cứ y chẳng tràn.
Người qua, kẻ lại rộn ràng,
Tha hồ đến giếng, kín mang nước về.
Thòng dây chưa tới, ích chi?
Giây chưa tới nước, cách gì múc lên.
Dùng gầu nứt rạn, chẳng bền,
Dùng gầu nứt rạn, thảo hèn nào hung.
Quẻ
Tỉnh là một triết lý về về cái giếng nước và người sử dụng giếng nước đó. Cải ấp bất
cải Tỉnh có nghĩa là dù nhà cửa đổi
dời nhưng giếng nước cũng không thay đổi.
Vô táng vô đắc, người dùng nhiều ít, nước giếng vẫn điều tiết một mực như
nhau. Hai ý này không ngoài định nghĩa về Trí huệ Bát Nhã.
Cụm từ quan
trong nhất trong văn bản trên có lẻ là Ngật chí (chưa tới nơi), tức dây chưa
thả đủ dài để chạm mặt nước thì không thể múc nước lên được. Cũng như hành giả
công phu cạn cợt làm sau chạm đến Trí huệ Bát nhã của mình. Luy kỳ bình. Hung (Gầu múc bị vỡ. Xấu).
Đây là chỗ mà nhà Phật gọi là Hủy hoại công phu, do tự mãn về chút ít chứng
đắc, dẫn đến phá giới, tăng thượng mạn giống như chiếc gàu mới đưa được nước
lên chưa đến mặt đất đã vỡ vụn. Kinh Dịch kết luận: Hung
Ở đây, nước là Trí huệ Bát Nhã, hành giả là
người múc nước giếng, sợi dây gàu chính
là chỗ công phu sâu cạn của mỗi người.
Hành thâm
Bát Nhã không có gì khác hơn là đi sâu vào đại định bằng con đường Thiền, Tịnh,
hay Mật tùy căn cơ mỗi người. Nhưng dù đi bằng con đường nào chăng nửa thì phải
kiên trì dấn sâu vào bên trong như người khơi tro tìm lửa, người thả gàu múc
nước thì mới chạm đến chỗ sáng nhất của mình, chỗ mà nhà Phật gọi là Trí huệ Bát
Nhã vậy.
Phan Cát Tường