Thứ Tư, 11 tháng 9, 2013

Bóng quạ chiều thu




1. Matsuo Basho (1644-1694) là một nhà thơ lỗi lạc của Nhật Bản. Là người khai sáng thể loại Haiku vỏn vẹn 17 âm tiết, Basho đã trở nên một vị thánh thi với hơn 2000 môn đệ và hàng triệu người hâm mộ phong cách Haiku trên toàn thế giới.
Basho chuyên đặc tả cảnh vật với cái nhìn đậm chất Thiền. Ông có hơn 1.000 bài Haiku nói về cảnh vật, côn trùng, thời tiết… Bài nào cũng bật lên được bản sắc cô đơn, tịch liêu của đối tượng và phơi bày cho người đọc thấy được tính vô thường trong chi tiết được đặc tả.
Bài thơ con quạ là một ví dụ điển hình:
Trên cành khô tiều tụy
Bóng quạ
Rũ chiều thu.
Basho nhìn con quạ là một chiếc bóng rũ, như một nhiếp ảnh gia chuyên chụp ảnh ngược sáng khiến đối tượng trở thành một cái bóng của chính mình. Cái bóng đó được đặt trên một cành khô tiều tụy giữa mùa thu lá rụng. Ông chỉ nói bấy nhiêu đó, với một ngôn ngữ hạn chế và cô đặc như như một loại đường mật, nhưng hương thơm của nó lan tỏa đến tận bên trong tâm hồn người đọc.
Basho cũng đã từng sử dụng con ếch, con chuồn chuồn, tuyết trắng,… để cô đặc ý tưởng của mình, khiến những bài Haiku của ông như một công án vắn tắt là say mê bao nhiêu hành giả.
Cũng giống như trong pháp hội Linh Sơn, Phật chỉ đưa cành hoa trước mặt đại chúng, là đủ để bày tỏ đại ý Phật pháp. Cành hoa cô đặc pháp giới. Cành hoa chứa 49 năm hành đạo với 5 thời thuyết giáo. Cành hoa là đại ý Phật pháp, là một loại Haiku độc đáo nhất. Cuối cùng chỉ có Ca Diếp mĩm cười!

2. Trong Tam Quốc Diễn Nghĩa của La Quán Trung, Tào Tháo (155-220) cũng nhìn thấy con quạ, nhưng cái nhìn của Tào Tháo cạn cợt bên ngoài nên rốt cuộc điềm mà quạ mang đến trước trận đánh Xích Bích, Tào Tháo không thể nhận ra được.
Xích Bích là một trận đánh lớn vào mùa đông năm Kiến An thứ 13 (khoảng năm 208-209) giữa liên quân Tôn Quyền - Lưu Bị và Tào Tháo trên sông Trường Giang, gần thành phố Nhạc Dương ngày nay. Trước trận đánh, Tào Tháo tự tin về chiến thắng của mình và tỏ thái độ khinh địch, ngồi uống rượu ngâm thơ trên thuyền. Đang lúc đang uống rượu thì trên không xuất hiện một con quạ đen đang bay về phương Nam với nhiều tiếng kêu thảng thốt. Liền đó, ông liền đưa con quạ vào nội dung bài thơ:
……………………..
Nguyệt minh tinh hy
Ô thước nam phi
Nhiễu thụ tam táp
Hà chi khả y?
Dịch:
Sao thưa trăng sáng
Quạ bay về nam
Ba vòng cây lượn
Đậu cành nào đây?
Rõ ràng Tào Tháo chỉ chờ đợi xem quạ đậu cành nào trên cột buồm mà không “thấy” được quạ bằng cả tâm hồn mình, khác hẵn với Basho: “Trên cành khô. Bóng quạ. Rũ chiều thu”. Có thể hiểu được tính cách bất an trong lòng Tào Tháo trước trận Xích Bích ra sao qua mấy câu thơ nhân lúc chờ xuất quân.
Trước trận đánh này, Tào Tháo mắc mưu Tôn Quyền, đã trảm 2 viên tướng Thủy quân cực giỏi, lại nghe lời kẻ dụng binh kém, cột hàng trăm chiến thuyền với nhau bằng dây xích sắt. Kết quả là tướng trá hàng Hoàng Cái dùng hỏa công đốt cháy toàn bộ số thuyền trên Trường Giang. Tào Tháo thua trận, rút chạy về Hứa Xương.

3. Quạ cũng đã xuất hiện trong một bài thơ nổi tiếng của Trương Kế (khoảng năm 756, đời vua Đường Túc Tông), bài Phong Kiều dạ bạc, trong đó tác giả tuy không thấy quạ, nhưng đã nghe được tiếng kêu thảng thốt của quạ vào một đêm sương đầy trời và mặt trăng cũng sắp lặn.
Nguyệt lạc ô đề sương mãn thiên
Giang phong ngư hỏa đối sầu miên
Cô Tô thành ngoại Hàn San tự
Dạ bán chung thanh đáo khách thuyền
Dịch:
Quạ kêu, trăng lặn, sương rơi
Lửa chài, cây bãi, đối người nằm co
Con thuyền đậu bến Cô Tô
Nửa đêm nghe tiếng chuông chùa Hàn San.
Trương Kế khi làm bài thơ này là một sĩ tử trên đường thi rớt trở về nhà. Đêm nằm trên chiếc thuyền chài ở bến Phong Kiều, ông nghe được tiếng quạ kêu, tiếng chuông chùa và thấy được trăn lặn, sương rơi. Đó là trạng thái của người tĩnh thức, người đang lắng nghe thân phận mình và thân phận người. Trạng thái lắng nghe của Trương Kế không khác gì Siddhartha lắng nghe tiếng “Ohm” của dòng sông rồi từ đó chứng ngộ được Nhĩ Căn Viên Thông rồi trở thành người giác ngộ (Câu chuyện của dòng sông- Hermann Hesse). Chính ở chỗ định huệ viên mãn mà ý thơ được bật ra nên bài Phong Kiều dạ bạc được khắc trên đá lưu tại chùa Hàn San đến ngày nay.
Từ con quạ của Matsuo Basho đến con quạ của Tào Tháo và con quạ của Trương Kế, đều là những con quạ bay trên bầu trời lãng du và gửi một thông điệp nào đó đến thiên nhiên. Nhưng Basho thấy được quạ bằng cái nhìn toàn giác, Trương Kế nghe được tiếng quạ bằng Nhĩ Căn Viên Thông, còn Tào Tháo chỉ thấy được cái bóng bay lượn mà không trực nhận được chút thông điệp nhỏ nhoi nào từ chú quạ cô đơn kia! Chính vì thế mà Tào Thào thua trận trước đôi quân tinh nhuệ của Chu Du, còn Matsuo Basho chiến thắng được và làm chủ được cái nhìn của mình, trong khi đó Trương Kế tuy là sĩ tử hỏng thi nhưng từ hơn 1.000 năm trước, đã để lại đời một bài thơ bất hủ từ sự lắng nghe trong thinh lặng, rỗng rang.
   Phan Cát Tường


Thứ Hai, 9 tháng 9, 2013

Hành thâm Bát Nhã




(      )

“Hành thâm Bát Nhã” là 4 chữ thứ 6,7,8,9 trong câu đầu tiên (Quán Tự Tại Bồ Tát hành thâm Bát Nhã Ba la Mật đa thời chiếu kiến ngũ uẩn giai không, độ nhất thiết khổ ách) của Bộ Bát Nhã tinh yếu chỉ vỏn vẹn 260 chữ, được rút gọn từ bộ Đại Bát Nhã gồm 600 quyển mà đức Phật đã thuyết trong Ngũ thời thuyết giáo của Ngài.
Bát Nhã là bản kinh nhật tụng tinh yếu mà hầu hết các thời công phu trong nhà chùa đều tụng đọc.
“Hành thâm Bát Nhã” thường được hiểu đơn giản là đi sâu vào pháp Bát Nhã để giải thoát đau khổ.
Nhiều học giả đánh giá đây là cụm từ căn bản của kinh Bát Nhã và cũng là cụm từ gây tranh cải nhiều nhất trong giới nghiên cứu Phật học.
Căn bản là vì hành giả phải “Hành thâm Bát Nhã” thì mới có thể chiếu kiến ngũ uẩn giai không, từ đó vượt qua mọi khổ ách.
Gây tranh cải là vì mọi người mất công đổ xô đi tìm cái pháp môn mà Phật gọi là Bát Nhã Ba La Mật để mà cố công hành trì.
Nhưng nhan nhãn trong lịch sử Thiền tông, chúng ta thấy rằng chư Tổ đã giải thích cho học trò của mình rằng Bát Nhã không phải là một pháp môn gì cả, mà chỉ là cái Trí tuệ mà ai cũng đều tự có, nhưng ít ai nhận ra nó thôi.

LỬA NẰM SÂU TRONG TRO
Câu chuyện truyền lửa giữa vị thầy là Bách Trượng Hoài Hải (720-814) với học trò là Qui Sơn Linh Hựu (771-853) như sau:
Một lần, Bách Trượng hỏi Sư: “Ngươi đem được lửa đến chăng?” Sư thưa: “Đem được.” Bách Trượng hỏi tiếp: “Lửa đâu?” Sư cầm một nhánh cây làm vẻ thổi lửa. Bách Trượng gạt qua và bảo: “Như sâu đục vỏ cây. Nhìn thì như chữ nhưng chẳng có nghĩa gì!”
Hôm khác, Sư vừa đứng hầu, Bách Trượng liền hỏi: “Ai?” Sư thưa: “Con, Linh Hựu!” Bách Trượng bảo: “Ngươi vạch trong lò xem có lửa chăng?” Sư vạch ra thưa: “Không có lửa.” Bách Trượng đứng dậy, đến vạch sâu trong lò được chút lửa, đưa lên chỉ Sư bảo: “Ngươi bảo không, cái này là cái gì!” Sư nghe vậy hoát nhiên đại ngộ.
Bách Trượng bảo: “Đây là con đường rẽ tạm thời. Kinh nói “Muốn thấy Phật tính phải quán thời tiết nhân duyên, thời tiết đã đến như mê chợt ngộ, như quên rồi nhớ lại, mới biết tĩnh vật của mình không từ bên ngoài được.” Cho nên Tổ sư bảo “Ngộ rồi đồng chưa ngộ, không tâm cũng không pháp.” Chỉ là không tâm hư vọng phàm thánh. Xưa nay tâm pháp nguyên tự đầy đủ. Nay ngươi đã vậy, tự khéo gìn giữ.”
Trong câu chuyện này, “lửa” được ví như Trí huệ Bát Nhã, người bới tro tìm lửa ví như hành giả tu tập sâu vào trong đại định để tiếp cận với Trí huệ này. Hai chữ hành thâm (  ) mang một ý nghĩa hết sức đặc biệt, như là một người lặn sâu dưới đáy nước. Trong ngôn ngữ Hán, chữ Thâm có bộ Mộc đi sau bộ Thủy, diễn tả hình ảnh một người chống cây sào sâu xuống nước để có thể vượt qua bên kia bờ sông.
Vậy, Tổ Bách Trượng đã khéo giải thích cho người học trò mình biết rằng Trí huệ nằm bên dưới tầng nhận thức, không thể tu tập qua loa mà có thể thấy được Bát Nhã, bằng hình ảnh người bới tro tìm lửa. Ai cất công bới sâu thì thấy lửa, vì lửa luôn luôn có mặt bên dưới lớp tro tàn.
LỬA NẰM SÂU TRONG CÂY
Cùng một trực nhận như Tổ Bách Trượng Hoài Hải, thiền sư Việt Nam Khuông Việt (匡越, 933- 1011) - dòng Vô Ngôn Thông, vị Tăng Thống đầu tiên của Phật giáo Việt Nam dưới triều Đinh Tiên Hoàng  - đã truyền lại bài kệ nổi tiếng cho đệ tử trước khi thị tịch.

木中原有火         
有火火還生
若謂木無火
鑽遂何由萌

Mộc trung nguyên hữu hoả
Hữu hoả, hoả hoàn sinh
Nhược vị mộc vô hoả
Toản toại hà do manh.

Trong cây vốn có lửa
Có lửa, lửa mới bừng
Nếu bảo cây không lửa
Cọ xát do đâu bùng.

Đại sư Khuông Việt cũng đã tỏ ngộ được chân lý “lửa vốn sẵn trong cây” nên Ngài chỉ cần khuyên dạy đệ tử  cần phải công phu cọ xát cho đến khi lửa bừng lên. Công phu cọ xát này không nằng ngoài ý nghĩa “hành thâm Bát Nhã” mà đức Phật đã từng thuyết.
Ở đây, một lần nửa cho chúng ta thấy rằng Bát Nhã không phải là pháp tu mà chính là cái mà chúng ta tự có. Muốn nhận ra nó, hành giả phải đi sâu vào Thiền định thì mới có thể ngộ ra mọi sự tìm kiếm bên ngoài đều vô ích.
THỦY PHONG TỈNH - QUẺ CỦA BÁT NHÃ TÂM KINH
Thủy Phong Tỉnh, quẻ thứ 48 trong kinh dịch nói như sau:
Tỉnh. Cải ấp bất cải Tỉnh. Vô táng vô đắc. Vãng lai tỉnh tỉnh. Ngật chí. Diệc vị duật tỉnh. Luy kỳ bình. Hung. (. . . . .   . .)
Nhân tử Nguyễn Văn Thọ, Giáo sư Triết Đại học Văn khoa Saigon dịch quẻ như sau:
Tỉnh là nước giếng nuôi người,
Rời làng, rời ấp, chẳng rời giếng đi.
Dùng nhiều, nước chẳng suy vi,
Không dùng, nước vẫn cứ y chẳng tràn.
Người qua, kẻ lại rộn ràng,
Tha hồ đến giếng, kín mang nước về.
Thòng dây chưa tới, ích chi?
Giây chưa tới nước, cách gì múc lên.
Dùng gầu nứt rạn, chẳng bền,
Dùng gầu nứt rạn, thảo hèn nào hung.
Quẻ Tỉnh là một triết lý về về cái giếng nước và người sử dụng giếng nước đó. Cải ấp bất cải Tỉnh có nghĩa là dù nhà cửa đổi dời nhưng giếng nước cũng không thay đổi. Vô táng vô đắc, người dùng nhiều ít, nước giếng vẫn điều tiết một mực như nhau. Hai ý này không ngoài định nghĩa về Trí huệ Bát Nhã.
Cụm từ quan trong nhất trong văn bản trên có lẻ là  Ngật chí (chưa tới nơi), tức dây chưa thả đủ dài để chạm mặt nước thì không thể múc nước lên được. Cũng như hành giả công phu cạn cợt làm sau chạm đến Trí huệ Bát nhã của mình. Luy kỳ bình. Hung (Gầu múc bị vỡ. Xấu). Đây là chỗ mà nhà Phật gọi là Hủy hoại công phu, do tự mãn về chút ít chứng đắc, dẫn đến phá giới, tăng thượng mạn giống như chiếc gàu mới đưa được nước lên chưa đến mặt đất đã vỡ vụn. Kinh Dịch kết luận: Hung
Ở  đây, nước là Trí huệ Bát Nhã, hành giả là người  múc nước giếng, sợi dây gàu chính là chỗ công phu sâu cạn của mỗi người.
Hành thâm Bát Nhã không có gì khác hơn là đi sâu vào đại định bằng con đường Thiền, Tịnh, hay Mật tùy căn cơ mỗi người. Nhưng dù đi bằng con đường nào chăng nửa thì phải kiên trì dấn sâu vào bên trong như người khơi tro tìm lửa, người thả gàu múc nước thì mới chạm đến chỗ sáng nhất của mình, chỗ mà nhà Phật gọi là Trí huệ Bát Nhã vậy.

Phan Cát Tường

Thứ Bảy, 7 tháng 9, 2013

Má chồng của tôi

  
Cuộc đời tôi có hai người Má. Má ruột là người sinh ra tôi, nuôi dạy lớn khôn và cho ăn học thành cô giáo. Còn Má chồng là người dạy cho tôi hai bài học lớn lao trong cuộc đời. Và là người đã để lại cho vợ chồng tôi một “tài sản khổng lồ” (cả về mặt vật chất lẫn tinh thần), nếu so với đồng lương vợ chồng tôi thì cả đời cũng không thể có được.
Má chồng tôi tên Võ Thị Hường, sinh năm 1919 và mất vào năm 2010, thọ 92 tuổi. Dù sống thọ nhưng cả đời Má rất khổ cực và không hề biết chữ. Tôi là con dâu út thứ 11, nên lúc về làm dâu vào năm 1990 là Má đã 72 tuổi. Má sanh 10 người con nhưng mất hết 7, chỉ còn lại 3 người. Tôi là người hay bầu bạn với Má lúc tuổi già nên nghe má kể lại và nhớ.
Hồi nhỏ Má phải đi ở đợ, giữ em bé cho người ta nên không biết chữ. Có lần ẵm em bé đi chơi, bị đám bạn chơi cò cò áp ồ lên cười, Má không biết gì! Sau đó thì có đứa bạn lại nói nhỏ vào tai: Tụi nó viết “con Hường ăn cỏ”. Từ đó Má tôi thề là phải học cho biết chữ và sau này phải dạy cho con ăn học đàng hoàng.
Nhưng Má chỉ làm được có một điều là nuôi dạy cho 3 người con biết chữ. Riêng 2 người con trai trở thành kỹ sư của trường Đại học Bách khoa TP.HCM. Anh trai lớn đậu Đại học vào năm 1976, còn anh kế (là chồng tôi) đậu vào năm 1978. Hai người con trai của Má học giỏi và làm lớp trưởng suốt thời học sinh. Nhà nghèo Má chỉ lo nổi tiền tập, còn sách là hai anh em lãnh thưởng về học chớ Má khỏi mua, nhưng Má nói nếu có mua thì Má cũng quyết cho con ăn học, dù lúc đó Má cứ bị bên gia đình chồng trách cứ là nhà nghèo không cho con đi làm mướn kiếm tiền, nghèo bày đặt làm sang…
Tôi nhớ má kể: “Má không biết chữ nên chỉ coi được môn thủ công mà thôi. Má không cho các con la cà rong chơi ngoài giờ học, ở nhà lo học bài, nếu đi ra ngoài thì Má để sẵn cây roi ngay cửa. Má dạy con từ nhỏ là không được đòi bánh, xin tiền, khóc nhè, nhà có gì là ăn nấy. Khi nhà có khách nếu đãi cơm là phải đi xuống bếp, dù có thèm món gì cũng không được xin hay ngó…”. Lời kể đó tôi nhớ và đã áp dụng cho hai đứa con trai bây giờ. Cảm ơn Má, giờ tôi đã có hai đứa con trai khá ngoan: đứa lớn học Đại học Bách khoa TP.HCM năm thứ tư và đứa nhỏ học lớp 6 trường Chánh Hưng, Q.8. Hai cháu lo học, không rong chơi la cà, sống có nề nếp. Đó là bài học quý báu thứ nhất của cuộc đời tôi.
Còn bài học thứ hai, Đó là Má đã để lại cho vợ chồng tôi một mảnh đất rộng khoảng 400 m2. Vào khoảng năm 2000, lúc đất đai bắt đầu có giá, vợ chồng tôi còn khó khăn, chỉ đủ ăn chứ không dư dả gì. Ba chồng tôi đề nghị bán và cương quyết bán để giải quyết khó khăn trong nhà. Nhưng Má chồng tôi nhất định không chịu bán. Má nói dù nghèo nhưng không đói, dù có đói Má cũng không bán. Vì đó là kỷ niệm và cũng là mồ hôi nước mắt của Ba Má. Nhất là Má phải chịu cực gánh gồng buôn bán đến còng lưng. Đến lúc 75-80 tuổi Má phải chịu cảnh đi mặt ngó xuống đất vì hồi còn trẻ Má đã gánh lúa, gánh đất, gánh rau cải, gánh khoai… quá nhiều. Dù Ba chồng tôi tìm đủ lý do nhưng Má cũng không chịu bán. Có lần Ba nói: “Tôi bán để lo hậu sự cho bà”, Má trả lời: “Tôi có chết thì chỉ cần ông cuốn chiếu và chôn tôi xuống cát”. Má nói với tôi: “Má đề lại cho cháu nội của Má, con phải giữ gìn”. Và tôi đã giữ cho Má đến tận ngày hôm nay. Nhờ có miếng đất mà Má cực khổ để lại mà giờ đây cuộc sống của gia đình tôi được khá hơn. Tôi không bán mà chỉ cho thuê lại để có thu nhập. Đã có nhiều người hỏi mua nhưng tôi cũng trả lời giống Má: Chịu được nghèo khổ rồi, không có lý do gì bây giờ lại bán. Đây cũng là mảnh đất Ba Má chịu khổ cực để dành cho con cháu, giờ bán cho người ngoài thì đau lòng lắm. Tôi không bán vì rất biết ơn Ba Má chồng của mình và cũng giáo dục con tôi sau này phải biết giữ gìn thành quả lao động của Ông Bà Nội.
Tp.HCM, ngày 29 tháng 12 năm 2012

Diệu Thuận - Vắn Ngọc Dung

Thứ Sáu, 6 tháng 9, 2013

Gửi Mẹ của con


(Nhân 49 ngày con mất Mẹ)

Mẹ - Má của con. Chúng con không quen gọi Mẹ, chỉ gọi Má thôi. Ngày sinh nhật mà lần đầu tiên tụi con tưởng nhớ sẽ tổ chức làm cho Má ở quán Cà phê Sân vườn cũng là ngày Chung thất của Má. Ngày 20 tháng 10 năm 2012 – ngày Phụ nữ Việt Nam.
Má có biết không, 50 ngày Má đã mất mà con tưởng như mới đây. Dù 50 ngày thương nhớ qua đi yên ắng, nhưng hôm nay đến chùa lại nghe thầy Trụ trì chùa Liên Hoa (Q8) tiếp tục đọc tên cầu siêu cho Má: Nguyễn Thị A, 68 tuổi, pháp danh Diệu Hiếu, tạ thế ngày 19 tháng 7 năm Nhâm Thìn… lòng con nặng xuống, tim thắt nghẹn và cuối cùng là vỡ òa những tiếng khóc nghẹn ngào, tức tưởi. Đau lắm Má ơi, thương Má suốt 49 ngày qua con cố gắng đến chùa để lạy sám hối cho Má. Khi nghe Thầy đọc tên cầu siêu cho Má là con chí tâm niệm Phật A Di Đà để mong cho Má của con được siêu thoát nhẹ nhàng. Khi đến ngày thứ 50 nhưng Thầy vẫn còn đọc tên khiến lòng con không sao cầm được nước mắt. Hết thời kinh con tìm đến cảm ơn Thầy và nghe lời Thầy dạy hãy cầu nguyện cho Mẹ sau mỗi buổi tụng kinh.
Má ơi! Hãy tha thứ cho những đứa con lầm lạc, vô tâm nha Má. Vì nghèo, dở và cũng là bất hiếu nên tụi con không chạy chữa tận tình cho Má đợt bệnh lần thứ 3 này. Nhớ lại câu nói của người lớn: “Mất Mẹ rồi không sao tìm lại được đâu! ” mà làm cho con ân hận quá Má ơi. Bây giờ thấm thía câu nói này thì đã quá muộn rồi. Là chúng con đã mất Mẹ vĩnh viễn rồi và chúng con cũng đã mồ côi thật sự rồi, Má ơi!
Cuộc đời Má sao lắm đau thương. Nhà nghèo, con 5 đứa khổ cực. Ba tụi con hồi nhỏ mồ côi, nay lại mất sớm để cho Má gánh nặng cuộc đời khi tuổi đời mới có 43. Nhờ Ông Bà Ngoại, Cô và các Dì giúp đỡ, nhưng bên ngoại lại gặp khó khăn kể từ khi bà Ngoại mất vào năm 1972. Má từng là cô thợ uốn tóc, không quen tay lấm chân bùn nhưng vì 5 đứa con đang đói cơm khát sữa mà phải bỏ nghề, mướn đất ruộng gần nhà để trồng rau muống và cắt bán nuôi con. Không đủ sống, Má quay sang bán gạo. Con nhớ Má phải ôm từng bao gạo vài chục ký leo lên tới lầu 2, lầu 3 bán hoặc đổi bo bo lúa mì rồi đem ra Chợ Lớn bán lại. Sau đó lại tới nghề lựa lông vịt, lông gà rất dơ và bụi bặm… Vượt qua nghèo khổ chúng con lớn khôn, những tưởng cuộc đời Má sẽ được an nhàn. Nào ngờ những căn đại bệnh ập đến cho Má. Vừa thoát nghèo là Má lên bàn phẫu thuật khối u nặng gần 1 ký vào năm 1993. Ra viện Má ăn cơm chan nước mắm Phú Quốc nguyên chất- của anh Minh, rể Má đi công tác mua về tặng Má-mà Má khen hoài trong những năm về sau. Mổ về, mà hàng xóm cứ nói bệnh này chỉ sống được vài năm. Con nín thở theo dõi, lo lắng cho đến khi bệnh tình của Má bị lãng quên bên các cháu nội ngoại an vui. Nhưng đến năm 2007 thì tin dữ lại đến nhà ta, Má bị bướu não…
Lần mổ này thì Má đã có các cháu nội –ngoại đủ lớn để thăm viếng Má. Đem lại không khí ồn ào vui tươi cho Bà Ngoại, Bà Nội nhưng lại không đủ sức giúp Bà vượt qua tai biến của cuộc mổ. Sau khi mổ được ra phòng đúng 12 giờ thì chỉ có duy nhất một mình con chứng kiến 2 lần động kinh của Má. Mắt Má nhắm nghiền, răng nghiến lại, người co giật mạnh. Má cắn gãy 2 cái răng, máu chảy tràn ra miệng. Bác sĩ cứu được nhưng Má bị hôn mê suốt 10 ngày. Lúc đó Má có biết người con như đã chết, suýt chút nữa là con cũng thành phế nhân như Má.
Rồi cuộc sống cũng trôi qua theo bệnh tình của Má. Má lại mang chở nặng trên người cùng lúc nhiều thứ bệnh: huyết áp, tiểu đường, yếu cơ, suy giảm trí nhớ. Thuốc men thì không được phép bỏ ngày nào, đi đứng lại khó khăn, tâm trí thì suy giảm… nhưng lúc này con lại bệnh quá nên không thường xuyên cận kề, tâm sự, chăm sóc cho Má. Qua bệnh tình, con biết mình đã mất đi một người Mẹ để tâm sự là lúc này đây! Và Má của con cũng không còn đủ trí khôn để nói cho con biết bệnh trong người của Má như những lần trước… cho đến khi bác sĩ phát hiện Má bị sạn thận, mà sạn lại quá to thì linh tính cho con biết là chắc chị em con sẽ không giữ được mạng sống của Má nữa rồi.
Tụi con quyết định không mổ sạn cho Má vì sợ biến chứng sau mổ, nhưng khi cuối cùng mổ cho Má thì Má lại vĩnh viễn ra đi. Má ơi con ân hận lắm, con tự trách mình hoài là sao không chịu mổ sớm cho Má. Nhưng Má hãy tha thứ cho tụi con là nếu mổ sớm thì tụi con đã mồ côi sớm. Và tụi con đã kéo dài thêm được gần 2 năm để có Má gần gũi thêm tụi con-để tụi con không phải mất cả Cha lẫn Mẹ như hiện nay, buồn tủi lắm Má ơi.
Má hãy thương mà tha thứ cho tụi con nhiều, nhất là đứa con gái lớn bất hiếu của Má! Con khóc quá nhiều nhưng cũng không sao bù đắp lại lỗi lầm của con. Chỉ mong Má nhận lấy những phần công đức mà con cố gắng làm để cầu mong cho Má được hưởng trọn phần tốt đẹp ở kiếp sau. Kiếp này Má đã khổ vì các con và thân bệnh quá nhiều rồi, mong Má được tốt đẹp ở kiếp sau nha Má.
Con gái của Má.
                                                                       Diệu Thuận – Vắn Ngọc Dung


“Hỡi những ai còn Mẹ, hãy tận hưởng những giây phút quý báu bên Mẹ của mình!”

Thứ Năm, 5 tháng 9, 2013

Cha tôi



Cha tôi mất cách nay tròn 8 năm. Đám tang cha, tôi không khóc. Có lẽ vì không có thời gian để khóc và nhất là chưa cảm nhận được sự trống vắng khi khi không có cha. Nhưng ba ngày sau, khi tôi chạy xe dưới cơn mưa phùn lất phất để đi mua chim về phóng sanh cầu siêu cho cha thì bỗng dưng nhưng giọt nước mắt tuôn trào.
Cơn mưa phùn của những ngày Sài Gòn giáp Tết bỗng giá buốt lạ, nhắc tôi nhớ về hình ảnh cha vác cuốc, băng ngang qua cánh đồng lúc còn trơ gốc rạ sau mùa gặt. Một cánh đồng nhỏ của vùng hạ tỉnh Long An chỉ biết hai mùa mưa nắng sao giữ trong tôi quá nhiều kỷ niệm đáng yêu. Tôi nhớ mỗi lần từ Sài Gòn về thăm cha, tôi hay đứng trước cửa và ngóng chờ cha vác cuốc trở về nhà buổi chiều dưới cơn mưa lất phất. Cứ mỗi lần tôi về nhà là ông tát đìa bắt cá nấu cháo. Ông ở một mình trong căn nhà lá ven con sông nhỏ nên rất vui mỗi khi có con cháu về thăm…
Hồi tôi còn bé, chiến tranh loạn lạc, ông lên Sài Gòn làm thợ mộc. Mỗi tháng đôi lần ông về thăm nhà. Cứ mỗi lần thấy bộ đồ bà ba trắng thấp thoáng sau lũy tre làng, tôi nhận ra ông ngay vì lỉnh kỉnh những đồ nghề thợ mộc ông quảy trên vai mỗi lần về nhà.
Rồi gia đình di tản lên Sài Gòn năm 1965, ông lại tiếp tục với nghề thợ mộc. Những buổi sớm tinh mơ ông quảy những chiếc cưa, bào đục trên vai đi làm. Chiều sụp tối ông mới về đến nhà. Cơm nước xong, ông hay nằm sấp kêu anh em tôi đến đấm lưng vì suốt cả ngày gò lưng trên những khúc gỗ nên ông bị chứng đau lưng mãn tính.
Chiến tranh lan rộng, mùa Xuân năm 1968, tôi cùng ông đang đứng trước nhà để lắng nghe những loạt đạn bất ngờ nổ từ phía xa thì bỗng dưng… “rắc… rắc…”, một viên đạn lạc bắn gãy cột tre trước nhà, Ông vừa kịp kéo tôi đi thì viên đạn ấy cũng vừa kịp sượt ngang qua làn da ngực của tôi, gây ra một vết trầy nhẹ ngay dưới bẹ sườn. Cái kéo tay đúng lúc của cha đã giúp tôi thoát chết trong gang tấc.
Những kỷ niệm giữa cha và tôi nhiều lắm. Ngày 29/04/1975, hai cha con từ vùng Quận 8 cùng một số hàng xóm lánh nạn trên những chiếc bè ghe nhỏ chạy theo hướng Nhà Bè, Cần Giuộc. Ghe lênh đênh trên sông thì những loạt đạn nổ vang bay xé gió trên đầu chúng tôi. Đó là thời điểm cái chết chỉ cách hai cha con trong gang tấc. Nhưng lạ thay, khi có cha bên cạnh, tôi bỗng cảm thấy yên tâm lạ thường như có sự chở che mầu nhiệm của ơn trên.
Sau ngày giải phóng, hai cha con chúng tôi hay rong ruổi trên chiếc ghe nhỏ vào khu rừng Bà Tàng,  Đình Ông để đốn củi. Lần ấy ghe chở củi nhiều, sóng to, gió lớn. Chiếc xuồng nhỏ bị gió cuốn đâm thẳng vào chiếc xà lan. Tôi cầm chiếc dầm ngồi ngay trước mũi, thấy mình sắp bị hất văng xuống sông. Lạ thay, cha tôi điều khiển chiếc xuồng lách qua mũi xà lan một cách nhẹ nhàng…
Cuộc sống lại tiếp tục chồng chất những khó khăn. Ông từ giã mảnh đất ngoại ô Sài Gòn, trở về quê hương vùng hạ Long An để sớm hôm cày sâu cuốc bẵm. Chúng tôi vì chuyện học hành phải ở lại thành phố và thỉnh thoảng về quê thăm cha. Lòng mình se thắt lại khi thấy cha tuổi già sức yếu, ngày ngày phải bám trên đồng ruộng để kiếm cháo rau đắp đổi qua ngày…
Kể sao cho hết những kỷ niệm giữa hai cha con. Cha mất đi ở cái tuổi bát tuần thì cũng coi như tuổi trời đã như ý. Duy chỉ có điều cơn bệnh cuối đời hành hạ cha quá dữ dội. Riêng về phần tôi thì có lỗi rất nhiều vì không có mặt ở bên cha thường xuyên để chăm sóc ông trong cơn bạo bệnh. Ngay cả khi ông tắt thở qua đời, hai anh em trai chúng tôi cũng trở về quá muộn màng để được nắm lấy bàn tay chai cứng của cha mà nói lời từ biệt… Năm nay là ngày giỗ lần thứ 8 của cha. Đứa con trai Út xin ghi lại vài dòng để nhớ về người cha yêu dấu và tạ lỗi cùng cha khi chữ Hiếu chưa tròn.
Phan Cát Tường

(Bài viết đã đăng trên Hương Thiền số 1-2009)

Thứ Tư, 4 tháng 9, 2013

Vu Lan hoa hồng trắng



Mùa Vu Lan năm nay, tôi đã trở thành một đứa trẻ mồ côi! Dù ở tuổi 53, nhưng tôi vẫn cảm nhận rõ ràng tâm trạng của một người con mất mẹ. Mẹ tôi đã đi xa thực sự rồi. Ngày mẹ mất, tôi không kịp khóc. Nhưng thỉnh thoảng tôi nuốt ngược vào bên trong những giọt lệ của một người con thơ khi bên mình bóng mẹ đã khuất sau dãy núi lam chiều.
Tôi nhớ cái bóng của mẹ. Ngày đầu tiên đi học, dù trường rất gần nhà nhưng sau khi nắm tay tôi đến tận cửa lớp, mẹ vẫn hỏi: “Học xong con tự về nhà được không?”. Tôi gật đầu: “Dạ được, mẹ!”.
Thế mà khi tan trường về khi vừa ra khỏi cổng trường tôi đã thấy cái bóng của mẹ đứng trên chiếc cầu cao lêu nghêu phía cuối con đường. Hôm ấy mây đen vần vũ, gió thổi mạnh từng hồi. Sau lưng mẹ là một vầng mây đen nghịt. Bóng mẹ hòa lẫn vào mây, vào gió. Mẹ hiện ra như một thiên thần làm lòng tôi ấm lại dù cơn mưa bắt đầu nặng hạt.
Không phải chỉ ngày đi học đầu tiên, mà trong suốt cuộc đời tôi, lúc nào mẹ cũng hiện ra đúng lúc, đúng chỗ để cho tôi bám vào bàn tay nóng hổi của người mà đứng lên vươn vai cùng cuộc sống.
Mẹ hiểu tôi hơn cả tôi, hơn cả mọi người. Mẹ chịu đựng tôi hơn cả tôi, hơn cả mọi người. Mẹ thương tôi hơn cả tôi, hơn cả mọi người…
Những đôi quang gánh ngày xưa mẹ mẹ gánh tôi một đầu, đầu kia là trái bí, lọn rau bây giờ đã trở thành kỷ niệm thiêng liêng. Những chuyến xe ngựa chở hai mẹ con chạy bon bon trên con đường làng đá đỏ bụi mù giờ là nỗi nhớ mênh mông.
Thời chiến tranh, những lần chạy loạn dưới mưa bom, lửa đạn tôi luôn luôn nghe được tiếng chân mẹ phía sau lưng mình. Tiếng chân mẹ nhẹ như gió thoảng mây bay nhưng đủ sức mạnh để dìu tôi qua vùng lửa đạn hiểm nguy.
Hôm nay, tôi xa mẹ đúng 49 ngày rồi. Theo quan niệm Phật giáo thì ngày mai mẹ mới thực sự về cõi vĩnh hằng. Tôi vẫn cảm nhận 49 ngày vừa qua mẹ vẫn còn lẩn quẩn trong nhà, bên con bên cháu. Đêm về tôi vẫn còn nghe hơi thở trầm trầm của mẹ. Nửa khuya thỉnh thoảng tôi vẫn cảm nhận được tiếng bước chân người nhè nhẹ đâu đây.
Mẹ ơi, con chỉ mong mẹ được thác sanh về cõi trọn lành. Tấm thân mẹ đã quá mỏi mòn vì hy sinh cho chồng con, quá đau khổ ở trần gian vì tật bệnh dài ngày nên xin ơn trên đừng để mẹ phải đau khổ thêm ở một cõi chúng sanh nào nửa, dù chỉ một phút giây ngắn ngủi.
Con tin tưởng rằng mẹ đã sống ở cõi Ta Bà bằng chất liệu tình thương thì khi xả bỏ báo thân này mẹ cũng sẽ được an nghỉ ở một nơi mà tình thương là chất liệu chính để nuôi dưỡng và mang lại hạnh phúc cho mọi người.
Phan Cát Tường

Thứ Hai, 2 tháng 9, 2013

Vòng Tay Mẹ

     
   


Những cơn mưa cuối tháng Sáu tuy có nặng hạt nhưng cũng không làm chậm lại bước chân của những bà Mẹ quê đang tất bật công chuyện đồng áng, chuyện học hành, thi cử của con cái. Người Mẹ gắn liền với sự lo toan. Ví như cánh tay Mẹ dài như dãy Trường Sơn cũng không đủ để ôm nổi lo toan chuyện đời của Mẹ.
Vì lẽ đó mà tự ngàn xưa, loài người đã có tục thờ Mẫu. Mẫu chính là Mẹ. Kinh Dịch, bộ kinh có cách nay gần 2.800 năm đã đưa người Mẹ vào vị trí thứ hai trong 64 quẻ của kinh. Vị trí thứ nhất là quẻ Càn (Trời-Cha), vị trí thứ hai là quẻ Khôn (Đất-Mẹ). Nếu như tượng quẻ Càn là toàn hào dương với 6 vạch liền, thì tượng quẻ Khôn chỉ toàn hào âm với 6 vạch đứt đôi. Mẹ phải phân đôi thân mình để cho ra đời sự sống mới. Mẹ phải phân chia tâm hồn mình ra để lo toan chuyện trong ngoài. Chính vì thế Mẹ không còn nguyên vẹn hình hài lẫn tâm trí. Mẹ trở thành biểu tượng của sự hy sinh.
Kinh Phật đã mượn hình ảnh Mẹ Quán Thế Âm bồng trên tay hài nhi để diễn tả đức tính Từ Bi. Phật giáo xem trọng đức Từ Bi nên luôn thờ phụng Bồ Tát Quán Thế Âm và luôn đặt Ngài trước sân chùa. Phật còn nói về Mẹ ở kinh Vu Lan Bồn, trong đó Phật dạy A-Nan cách phân biệt xương khô của đàn ông, đàn bà:
      “Đàn ông xương trắng nặng oằn
      Đàn bà xương nhẹ, đen thâm dễ nhìn.
      Ngươi có biết cớ chi đen nhẹ?
      Bởi đàn bà sanh đẻ mà ra
      Sanh con ba đấu huyết ra
      Tám hộc, bốn đấu sữa hòa nuôi con...”
Đó là một trong những đoạn kinh văn hay nhất dạy về Nhân thừa làm xúc động lòng người. Bao nhiêu thứ triết lý cao thâm để diễn tả những tinh hoa của loài người cũng không bằng một bài học vỡ lòng về sự hy sinh của Mẹ. Vì thế, hiếu thảo với Mẹ phải là điều kiện hàng đầu để xác nhận về phẩm cách một con người.
Phan Cát Tường