Thứ Sáu, 16 tháng 10, 2020

 Một hôm



Thứ Năm, 15 tháng 10, 2020

 Đêm đọc Bát Nhã Tâm Kinh





Thứ Tư, 14 tháng 10, 2020

 Mở cửa





Thứ Năm, 8 tháng 10, 2020

 Hoài niệm phố










 Sài Gòn có cơn bão nhỏ













 Khai ngộ




Thứ Ba, 6 tháng 10, 2020

Hãy cứ là tình nhân, em nhé! (truyện ngắn)    

                                                                                                                                                  


 1.

Tôi đến thăm nàng vào một ngày căng thẳng của Sài Gòn trong mùa đại dịch Corona. Dù lý trí biết rằng có lệnh hạn chế tối đa việc ra đường để tránh lây lan loài virus đáng sợ kia, nhưng trái tim tôi cũng có lý lẻ riêng của nó: Nào là hôm nay ngày Một tháng Tư, giỗ của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn, nếu đến nhà nàng chơi thì tôi có thể cầm cây đàn guitare thùng và hát vài câu nhạc Trịnh vu vơ để gọi là kỷ niệm cuộc tình 10 năm chưa có đoạn kết giữa tôi và nàng. Rồi nào là đến thăm nàng vào những ngày “nguy hiểm” như thế này thì hy vọng con tim nàng cũng có chút rộn rã, chứ không thôi cái biệt danh “ice lady” mà bạn bè đặt cho kể từ khi nàng tuổi quá 30, đang trở thành hiện thực!

Thế là tôi mạnh mẽ đưa ngón tay trỏ lên bấm nút chuông điện nhà nàng. Không ai ra mở cửa. Nhưng điện thoại trong túi áo tôi rung nhẹ. Nàng nhắn tin: “Đợi em tí, đang thử áo  dạ hội!”. Trời đất! Tôi nghĩ thầm, mùa này mọi người đang lo tím tái ruột gan vì mấy con Corona, hội hè đình đám đều  tạm ngưng, sao nàng lại còn cái thú thử áo đi dạ hội!

Thế nhưng, nàng không cho tôi đợi lâu. Cánh cổng sắt mở hờ, vừa đủ cho tôi dắt cái xe Honda đời 67 cổ lổ xỉ vào, rồi khép lại ngay, có lẻ nàng cũng sợ hàng xóm dòm ngó chăng?

Cửa phòng khách mở, tôi thừa biết mình phải ngồi cái ghế nào trong bộ salon, lấy cái ly màu nào, rồi tự rót nước ra mà uống... Hơn 10 năm rồi, sao lại không thuộc bài học vỡ lòng ấy nhỉ!

Và câu hỏi đầu tiên của tôi mỗi khi gặp nhau cũng được nàng lập trình:

- Ba mẹ em dưới quê khỏe không? Ông già còn đi sinh hoạt hội Cựu Chiến Binh của tỉnh chứ?

Và đó có vẻ như là câu hỏi của một công án Thiền tông, vì nó luôn luôn nhận được sự im lặng từ phía người được hỏi. Khi tôi ví nó là một câu thoại đầu Thiền thì nàng cười phá lên:

- Thì ra anh cũng biết chút đỉnh về Thiền hả, sao không lên núi tu luôn đi?

Tôi kể nàng nghe một giai thoại Thiền:

“Có chàng thanh niên nọ biết chút đỉnh giáo pháp và mong muốn gặp Phật. Anh ấy từ giả mẹ già và lên núi tu, nhưng sư phụ trên núi bảo rằng: “Người hãy quay trở về nhà, gặp ai mang đôi dép ngược như thế này, người ấy chính là Phật!”. Anh thanh niên y lời thầy xuống núi, trở về nhà vào một đêm tối trời và gõ cửa. Bà mẹ nghe tiếng gõ quen thuộc, biết con mình về, mừng quá, bà xỏ đôi dép ngược ra mở cửa đón con... Anh thanh niên thấy mẹ mang dép ngược như lời mô tả của vị thầy trên núi, nên biết ý thầy, vội vàng quỳ xuống lạy mẹ như kính lễ một vị Phật!”.

Rồi câu kết bài pháp thoại cũng được nàng lập trìnhcho tôi:

- Phải biết, Phật pháp bất ly thế gian pháp. Tu đâu cho bằng tu nhà...

Nàng lắng nghe chăm chú những mẫu chuyện Thiền của tôi, thực sự thì nó cũng là mớ kiến thức rời rạc khi tôi đọc nào là Góp Nhặt Cát Đá, Vô Môn Quan hay Bích Nham Lục chẳng hạn... Nhưng rồi nàng lại có một câu so sánh muôn đời:

- Anh kể chuyện Thiền có duyên lắm, nhưng cũng còn kém hơn một người...

Ban đầu, tôi hơi bị sốc về nhận xét đó của nàng. Tôi kém hơn một người ư? Ai vậy? Không phải trong mắt nàng tôi luôn là nhân vật số 1 sao, vì đã từng làm gia sư, dạy kèm môn Toán cho nàng từ năm học lớp 10 bậc Trung học... Và nàng cũng suýt gọi tôi bằng “thầy”, nếu như năm đó ba tôi không nghe lời rủ rê của mấy ông cán bộ phường, đi kinh tế mới thì tôi đã ở lại Sài Gòn và thi đỗ vào Cao đẳng Sư phạm như đám bạn cùng lớp!

Nhưng rồi, câu so sánh “nhưng cũng còn kém hơn một người...” của nàng dần dà cũng đã trở thành một công án Thiền!

Hơn 10 năm nay, câu nói ấy được lặp đi lặp lại trung bình một tháng hai lần như hai thời kinh sám hối trong những ngày sóc vọng trong chùa. Trạng thái bực tức ban đầu của tôi chuyển dần thành trang thái “buồn buồn như nước ao Thu”, rồi chuyển thành trái thái bình thường. Và cho đến nay thì lần nào đến nhà nàng mà không nghe câu so sánh ấy thì lại thấy thiếu thiếu một cái gì đó!

Và mỗi khi nàng đưa ra cái “công án” đó thì tôi lại dọ dẫm đáp án:

- Em muốn nói đến thầy Thiện Ngộ bên chùa Từ Hạnh phải không?

Nàng lườm tôi:

- Anh như đi guốc trong bụng em. Anh vẫn hơn thầy ở cái một số tài vặt, biết cách “nịnh” bồ, đọc nhiều sách Thiền hơn thầy...

- Còn thua thầy ở điểm nào, tôi hỏi với vẻ hơi cáu gắt.

Nàng cười tỉnh queo:

- Em chưa thấy thầy giận ai bao giờ!

- Chỉ thế thôi sao? Vậy thì thầy Ngộ có khác chi phổng đá... Tôi kết và uống ngụm nước để dằn tự ái.

Mười năm nay rồi, chúng tôi quen nhau và thường trong mỗi lần gặp nhau thì bất đồng quan điểm về một nhân vật đặc biệt của nàng: thầy Thiện Ngộ!. Có lần tôi bực quá về sự so sánh của nàng, nói như điên:

- Vậy thì em về chùa Từ Hạnh tu với thầy Ngộ luôn đi, sống độc thân làm gì cho khổ sở thế?

Mỗi lần tôi cáu gắt lên như thế thì nàng chỉ im lặng. Không biết nàng im lặng đợi cho tôi nguôi cơn giận hay im lặng chỉ là một thủ thuật của những “ice lady” như nàng?

- Vì em còn yêu anh mà!

Và tôi chỉ đợi bấy nhiêu đó để có dịp dựa lưng sát ngực nàng, nắm lấy bàn tay mảnh khảnh, xanh xao của nàng và hôn nhẹ lên ngón... áp út. Và nàng cũng sẽ hỏi câu quen thuộc:

- Sao lại hôn ngón áp út, mà không hôn ngón... út, chẳng hạn?

Tôi lại giở bài sư phạmcủ rích:

- Áp út là ngón của sự nhẫn. Cưới nhau xong là vợ chồng phải đeo nhẫn nơi ngón áp út để dặn lòng phải nhẫn nhục để sống chung. Còn bây giờ muốn ngồi bên em thì phải “nhẫn” đến mười lần.

Nàng cười rủ rượi và đẩy mạnh tôi ra khỏi bộ ngực đang râm rang nóng hổi:

- Thôi, anh về đi, khuya rồi. Dạo này đi khuya bị dân phòng hỏi giấy tờ đó nhen!

Tôi vả vờ ngáp dài:

- Buồn ngủ quá, đêm nay ở lại đây ngủ với em nhé?

Nàng đứng phắc dậy, kẹp lại mái tóc đang buông xỏa rồi  lặp lại điệp khúc:

- Em quen ngủ một mình rồi, nằm chung với người lạ khó ngủ lắm, anh đi về đi...

Đó là những điệp khúc của chuyện tình 10 năm của tôi và nàng. Cứ mỗi lần như thế, tôi buồn bã đứng lên, dắt xe lọc cọc ra cổng. Thường thì nàng sẽ  ra trước, rồi quay  ngoắt lại nhìn chằm chằm vào mắt tôi hay sửa lại cái cổ áo sơ mi thường xuyên nhăn nhúm hoặc giắt lại cái cây bút trên túi áo cho ngay ngắn và nói vài câu tiếng Anh quen thuộc (có lẻ do thói quen giao tiếp trong công ty của nàng):

- See you again!

Nhưng đêm nay, nàng còn nói với theo:

- Anh ơi, nhớ đeo khẩu trang vào nhé! Mấy em Corona kinh dị lắm đó!

Tôi chợt nhớ ra là dịch Corona đang đến tuần cao điểm trong thành phố, nên đeo vội chiếc khẩu trang vào và phóng chiếc 67 đi về hướng ngoại thành. 

2.

Đường từ nhà nàng về khu nhà trọ của tôi luôn phải đi qua chùa Từ Hạnh. Tôi không thích lắm ngôi chùa này lắm, không phải vì chùa nghèo, thầy ít làm từ thiện hay ít tổ chức các khóa Bát Quan Trai, mà vì nàng! Nàng là Phật tử thuần thành của chùa Từ Hạnh. Sư phụ mà nàng quy y không ai khác hơn là thầy Thiện Ngộ, lớn hơn nàng độ 5-7 tuổi chi đó, nhưng trong thâm tâm nàng luôn coi thầy như “Phật sống”. Tất cả đời sống nàng: chuyện ăn chay, niệm Phật, đi chùa,... và cả chuyện lập gia đình của nàng đều “y giáo phụng hành” theo những lời khuyên bảo trong các buổi pháp thoại của vị thầy đáng kinh kia.

Tôi chạy ngang chùa, hơi khựng xe lại chút vì thấy cổng  chùa đèn sáng choang và vẳng ra từ sân có tiếng người khóc lóc thê thiết. Đó là tiếng khóc nghẹn ngào của một người phụ nữ đứng tuổi. Bà ta rên rỉ:

- Thầy ơi, cứu chồng con. Ông ấy chết rồi... Mà con không  thỉnh được một vị thầy nào đến hộ niệm cho ông ấy thanh thản ra đi.

Có tiếng thầy Ngộ:

- Thầy bổn sư ông nhà chị đâu, trước đây ông ấy có nói là đã qui y và thọ giới với một vị thầy bên chùa nào đó?

Tiếng khóc của người đàn bà ngày càng lớn hơn nữa:

- Bạch thầy, theo chỉ thị chống dịch thì bên chùa Từ Tâm treo bảng “miễn tiếp khách” từ mấy hôm nay. Các chùa khác con cũng đã gõ cửa, nhưng họ đều trả lời: “Dịch bệnh, chùa không làm nghi thức hộ niệm cho bất kỳ ai”.

Tiếng thở dài của thầy Thiện Ngộ nghe rõ mồn một, thầy nói:

- Thôi, bà chờ tí. Thầy vô lấy áo tràng và chuông mõ đi cùng bà.

Tôi hơi bở ngỡ chút về thái độ của thầy. Thầy không sợ đám đông sao? Thầy không sợ lây nhiểm sao?...

Khi thầy ra cổng chùa thì lại không có xe đi. Thầy Ngộ không sắm xe cá nhân. Bà khách đến chùa lại đi xe ôm. Khuya khoắt trong mùa dịch bệnh gọi Grab hay Go Việt rất khó! Thấy thầy bối rối, tôi trờ chiếc 67 tới:

- Bạch thầy, con có thể giúp chở thầy theo bà khách này.

Thầy nhìn tôi, hơi nhíu mày tí:

- Tốt quá, nhưng hình như chú đâu phải là tài xế xe ôm?

- Dạ vâng, con chỉ là khách qua đường. Nay có duyên gặp thầy!

Thế là thầy lên xe.Tôi rồ ga phóng theo chiếc xe ôm phía trước.

3.

Tang lễ trong mùa dịch Corona cũng khác thường: vắng vẻ và cô đơn, không kèn, không trống, không ly rượu tiễn đưa...

Tôi nán lại đợi thầy làm xong nghi thức hộ niệm, nhập quan rồi chở thầy lại về chùa. Khi thầy bước ra khỏi cái rạp nhà đám, bà chủ chạy theo, níu tay thầy:

- Bạch thầy, thầy lấy chi phí bao nhiêu, cho gia đình con gửi lại cúng dường?

Thầy gỡ tay bà chủ ra, nói:

- Không lấy tiền, bà ạ. Thầy chỉ đến để giúp gia đình  nghi thức tống tiễn linh cửu.

Bà chủ nhà tỏ vẻ ngạc nhiên. Xưa nay, trong chuyện tang tế, nhà chùa thường “hét” giá trên trời... Nay có ông thầy này tụng niệm miễn phí, lại dám “đi đêm” trong mùa dịch!

Thầy nói xong thì nhẹ nhàng lên xe tôi đang trờ sẵn ngoài cổng rạp nhà đám. Thầy nói:

- Chú hoan hỷ cho thầy về chùa. Thật quý hóa thay, mùa dịch lại có người tốt như chú!

Tôi cười thầm trong bụng. Không phải tôi tốt với thầy, mà vì nàng. Tôi bắt đầu thấy nàng có lý. Nàng tôn một người làm thầy có vẻ là xứng đáng với vị trí ấy.

Về gần đến chùa, tôi chạy xe chầm chậm, cố gắng nhớ ra cái pháp danh qui y của nàng, và hỏi nhỏ:

- Bạch thầy, thầy có một nữ Phật tử pháp danh Diệu Hương phải không ạ?

Thầy im lặng một hồi, như moi móc trí nhớ ra xem Diệu Hương là ai. Cuối cùng, thầy cười:

- Chú tha lỗi cho, thầy không nhớ hết pháp danh các Phật tử đã quy y. Ngay cả cái tên Diệu Hương cũng khá bất ngờ đối với thầy!

Bây giờ đến lượt tôi ngạc nhiên: 

- Vậy là thầy không quan tâm đến Phật tử của thầy sao?

Thầy lại yên lặng. Tôi chợt hiểu ra một điều: Tất cả những gì thầy nói và làm cho Phật tử của thầy là tùy duyên hóa độ. Thầy không giữ lại một ý niệm nào trong tâm thức cả. Chỉ có nàng, nàng giữ lại trong tâm thức của nàng từ lời nói, cử chỉ, hành động của người thầy đáng kính kia, rồi thêu dệt nó trở thành một thứ kinh nhựt tụng!

Người thầy này không hề quan tâm đến tiền bạc, xe cộ, chùa chiền, Phật tử, đạo tràng... Những thứ này đối với thầy chỉ là phương tiện hóa độ. Vậy mà bấy lâu nay tôi cứ ngỡ là đã có một mối dây liên hệ thắm thiết nào đó giữa nàng và người thầy đáng kinh kia! Không, chỉ là một nửa vầng trăng. Thầy chỉ là chú Cuội ngây ngô đứng bên phía ánh sáng giải thoát. Còn nàng là chị Hằng ngàn năm an trú trong cái bóng tối của sự thần tượng “Phật sống” bên ngoài!

Có lẻ vì thế mà 10 năm nay, mỗi lần tôi nhắc đến chuyện cầu hôn thì nàng luôn gạc phăng ra. Vì cái bóng vĩ đại của thầy Thiện Ngộ đã che phủ được dục vọng của nàng. Và nay, cái bóng ấy cũng đã chạm đến tôi, đến phiên tôi bị che phủ, không phải vì những bài pháp thoại “điêu luyện” của thầy, mà đơn giản, vì cách sống của thầy đã chứng tỏ thầy là một người đã buông xả được mọi thứ, ngay cả chính bản thân mình!

Đêm nay, tôi về đến nhà sẽ nhắn cho nàng một cái Messege nhỏ trước khi ngủ: “Hãy cứ là tình nhân, em nhé!”

 


Thứ Hai, 5 tháng 10, 2020

 Địa đàng vỡ mộng




 



Đợi





Cô Phong Quán                    






Thứ Bảy, 3 tháng 10, 2020

Tôi cô đơn giữa... bóng hồng lung linh







Thứ Sáu, 2 tháng 10, 2020

 


Chơi 

                                                                                                                                                      Cà phê, sáng nắng chiều mưa

Ta ngồi chơi với ngày xưa một mình

Nói gì em cũng lặng thinh

Thôi thì không nói, là tình đôi ta.


Thứ Năm, 1 tháng 10, 2020

 



Ghen với sao Mai

       (truyện ngắn)

                                                                                                                                                 Khi tiếng chuông công phu khuya của chùa Linh Sơn ở lưng chừng núi Dinh theo gió văng vẳng bên tai thì hắn cũng vừa kịp mở mắt và lồm cồm bò dậy. Hít một hơi dài để cảm nhận không khí tươi mát của núi rừng buổi sớm, hắn bước ra khỏi cái chòi tre ọp ẹp và bắt đầu đi về hướng sao Mai trên bầu trời sớm.

Vâng, khuya nào cũng thế, hắn đi về hướng sao Mai là chắc chắn sẽ gặp nàng, vì khuya nào cũng thế, nàng ngồi tĩnh tâm, hướng về sao Mai và thiền định giữa núi rừng tràn đầy sương sớm.

*

Kìa, nàng đây rồi! Nàng tĩnh tọa trên một tảng đá lớn, bằng phẳng, nghe nói nơi đây đã từng là một bãi đáp trực thăng dã chiến của lính Mỹ trên núi Dinh thời chiến tranh. Hắn không muốn làm bận rộn đến nàng, một nữ hành giả đang trong cõi thiền nhưng nhìn bề ngoài lại rất trần tục! Phải, nàng luôn luôn thiền định trong chiếc áo trắng mỏng manh, không mặc áo ngực và cũng chẳng cài nút áo bao giờ. Có lần, hắn đứng trước mặt nàng, nhìn bộ ngực trắng ngần, tươi mát và phập phồng theo hơi thở như những chiếc bong bóng bay lên từ con suối đang róc rách chảy qua chân tảng đá. Hắn không dám mở miệng nửa lời để bày tỏ cảm xúc hay dục vọng đang dâng trào, bởi vì khi ấy nàng đang thiền quá sâu, không để tâm tới ai đó đang thưởng thức vẻ đẹp tuyệt vời của thân thể nàng. Nàng không còn quan tâm nhục thân hay hay pháp thân nữa. Nàng đang ở trong cảnh giới vô nhiễm hoàn toàn thì làm sao hắn có thể khêu dậy nơi nàng một chút dục tình? 

Hắn nuốt nước bọt và chờ nắng lên. Khi những giọt nắng đầu tiên len qua kẻ lá rừng thì nàng xả thiền, duỗi chân, hít thở vài hơi và cài khuy áo ngực lại. Nàng đứng lên, không thèm để ý đến gã đàn ông đang trân tráo nhìn nàng như một chú mèo sắp sửa vồ con chuột nhắt!

Đó là câu chuyện thường ngày của một người đàn ông giữ rừng bạch đàn và một nữ hành giả thiền định trên đỉnh núi Dinh: Người đàn ông trạc 50 tuổi và và chưa hề nếm mùi phụ nữ. Còn cô gái kia có lẻ khoảng 30 xuân thì và chỉ muốn sống độc thân giữa núi rừng cô tịch!

Người đàn ông này không ai rõ lý lịch của hắn, chỉ biết là khoảng thập niên 90 của thế kỷ trước, Ban Quản lý rừng phòng hộ núi Dinh yêu cầu bổ sung một lính kiểm lâm. Và một tháng sau, Tổng đội 3 Thanh Niên Xung Phong gửi về một người lính ốm yếu, xanh xao. Thế là hắn có mặt ở đây gần 30 năm rồi, ngày ngày chỉ làm một nhiệm vụ duy nhất là giữ màu xanh cho hơn 100 mẫu rừng tràm bạch đàn cho hạt kiểm lâm vùng Bà Rịa này!

*

Thế rồi một ngày, có chuyện xảy ra trong ngôi chùa ở lưng chừng núi. Linh Sơn Ni viện bấy lâu này yên ổn với 30 Ni chúng tu học và chấp tác trồng rừng, nay lại xãy ra chuyện mất cắp. Một đêm tháng Bảy mưa to gió lớn, chùa bị đánh cắp tượng Bồ tát Quán Thế Âm bằng đồng. Nghe đâu tượng này do một Phật tử Việt Nam tại Đài Loan phát tâm hỷ cúng, có giá trị nhiều nghìn Mỹ kim.

Sau khi Ni sư Trụ trì lên Công an xã báo tin mất cắp thì lần lượt những người trong diện tình nghi được mời lên xã làm việc. Người cuối cùng được mời lên là Phật tử Diệu Ngọc, người đã công quả hơn ba năm ở Ni viện này và đang chuẩn bị làm lễ xuất gia vào ngày lễ Vu Lan năm ấy.

Diệu Ngọc cũng là người không ai rõ nguồn gốc, chỉ biết cô ấy dựng tạm một am tranh tu tại gia dưới chân núi đã hơn ba năm rồi. Khi Ni viện làm lễ lạc thành, cô xin lên chùa làm công quả. Ni sư thấy cô có công hạnh nên khuyên tiếp tục ở lại Ni viện công quả và chờ ngày xuất gia.

Và rồi khi chuyện mất cắp xảy ra, Diệu Ngọc là người bị nghi ngờ nhiều nhất, với lý do là có một người đàn ông thường xuyên lên chùa tìm cô, nói là có bà con xa chi đó với cô, nhưng cô Diệu Ngọc lại từ chối phăng phắc, khẳng định là không biết người đàn ông này. Đó là Thắng, người lính kiểm lâm trẻ đã bị nhan sắc Diệu Ngọc cuốn hút khi một lần được nhìn thấy cô đi gánh nước từ suối về chùa.

Anh công an xã nói thấp giọng:

- Tôi nghe mọi người nói là anh Thắng, lính kiểm lâm hay ghé thăm cô? Rồi chuyện mất tượng xảy ra chỉ ít hôm sau khi anh ấy lên chùa lần sau cùng… Có đúng vậy không?

Diệu Ngọc thưa thật:

- Vâng, đúng vậy, nhưng tôi không biết anh ấy là ai và tôi cũng không để tâm chi đến tượng Phật Quan Âm đang thờ tự, vì đã chuẩn bị xuất gia theo sự dẫn dắt của Ni sư viện chủ!

*

Tuy Diệu Ngọc nói vậy, nhưng không hiểu sao trong tờ trình gửi Công an xã, cô lại khai là mình đã đánh cắp tượng Bồ tát vào đêm mưa rằm tháng Bảy, định đem đi xuống chợ bán thì dọc đường bị đánh rơi, chỗ nào thì lại không biết?

Thế là cô bị trục xuất khỏi Ni viện, nhà chùa cho cô mượn một cái am nhỏ thờ Phật cạnh suối Tiên, nơi cô thường xuống gánh nước mỗi chiều - để tạm cư, trong khi chờ xã tiếp tục điều tra làm rõ.

Cô ở am này đã hơn một năm nay, ban đầu cô lên chùa xin gạo rồi hái rau rừng đỡ đói mỗi ngày. Thời gian sau, không biết ai đó thi thoảng đã lẻn vào am để một túi gạo trắng và ít đậu hũ, củ quả, gia vị,… nên cô đỡ phải cất công lên chùa xin gạo và có nhiều thời gian hơn cho việc tu tập.

Một buổi chiều, lang thang trên núi, cô tình cờ phát hiện ra bãi đá phẳng lỳ này. Bãi đá này rất thích hợp cho những phi vụ trực thăng thời chiến, hãy còn sót lại hình cô gái khỏa thân vẻ nguệch ngoạc, đã ngả màu sơn, bên cạnh là hình khẩu súng máy với dòng chữ Y.I.H (You are in my heart) mờ nhạt.

Tuy mặt đá có vài vết nứt nhỏ đủ cho loài cúc dại sinh sôi, nhưng lại hứng trọn luồng gió mát từ biển Vũng Tàu thổi vào nên cũng rất thích hợp cho các hành giả thiền định. Cô thử bắt chân ngồi kiết già và tự nhiên cảm nhận một luồng điện mạnh mẽ từ trời đất chảy thẳng vào huyết mạch của mình.  Cô quỳ xuống, đảnh lễ tạ ơn Thổ thần và xin phép hằng đêm được ra đây tĩnh tọa tham thiền nhập định. 

*

Thời gian trôi qua, một buổi khuya khi Diệu Ngọc đang tọa thiền hướng về sao Mai thì một vầng hào quang xuất hiện. Nàng mừng rỡ, cho là có Phật thị hiện chứng giám, nên đứng lên đảnh lễ Phật và cầu nguyện Ngài hộ trì. Vầng hào quang chợt biến mất và nhiều bóng đen dáng lính tráng xuất hiện với súng ống, vũ khí lỉnh kỉnh trên người. Họ nói toàn tiếng Mỹ. Có một thông ngôn người Việt dịch lại là yêu cầu cô phải rời khỏi tảng đá này ngay, vì đây là lãnh địa của họ, không ai được xâm phạm.

Rồi cô trở về am, nằm suốt ba ngày đêm, bất tỉnh trong cơn sốt li bì với hơi thở đứt quãng. Nhưng Thắng đã xuất hiện đúng lúc, hắn vo gạo nấu cháo trắng với đậu hũ và đút cho nàng từng muỗng cháo. Sau khi tỉnh dậy, Diệu Ngọc là con người khác hẳn rồi, như bị ai  nhập xác, nàng chỉ mặt Thắng cười ha hả:

- Mày là thằng nào mà dám đến phá am cô. Đi ngay nghen!

Rồi nàng tiện tay vớ lấy con dao bữa củi vung lên. Thắng chạy trối chết, về báo với Ni sư và Công an xã.

Kết luận tạm thời giám định y khoa của bác sĩ là Cô Diệu Ngọc bị “tâm thần hoang tưởng” do làm việc quá sức! Tuy nhiên theo Ni sư Trụ trì thì Diệu ngọc đã bị “tẩu hỏa nhập ma” do thiền định không có minh sư nên đã tu sai đường.

*

Nhờ chứng bệnh “tâm thần hoang tưởng” hay “tẩu hỏa nhập ma” mà Diệu Ngọc được an ổn. Từ đây mọi người không còn dèm pha hay để ý đến nàng nữa. Thắng cũng sợ nàng đến điếng hồn, chỉ thỉnh thoảng lên am tiếp tế lương thực cho nàng mà không dám có chút tình ý lẳng lơ như trước.

Cho đến một khuya nọ, trong khi đi tuần tra trong khu vực kiểm lâm thì Thắng bắt gặp nàng đang khỏa thân thiền định. Nàng ngồi trần trụi trong tư thế kiết già trên bãi đáp trực thăng và chìm đắm sâu vào cảnh giới của nàng. Thỉnh thoảng lại nhếch mép cười và nói những câu lảm nhảm với ai đó. Nàng thường xuyên kêu tên một người đàn ông, hắn là… Robert Taylor chi đó. Nàng kêu lớn tiếng: “Đại úy Robert, gọi trực thăng đến cứu tôi ngay S.O.S… Tụi VC đang bao vây!”.

Thắng đã tin hoàn toàn là nàng bị những vong linh chiến sĩ “mượn xác” rồi! Khi về làm lính kiểm lâm ở hạt này, Thắng đã nghe vô số những câu chuyện người ta bị các hương linh chiến sĩ mượn xác: Có khi người mượn là lính Mỹ, có khi là lính VC, có khi là lính Việt Nam Cộng hòa… Vì nơi đây từng là căn cứ địa của lực lượng kháng chiến Thành Đoàn, đối đầu với các đơn vị của liên đoàn 5 Biệt Động Quân, Biệt kích Mỹ… trong suốt những năm từ chiến dịch Mậu Thân (1968) đến trận chiến Mùa hè đỏ lửa (1972).

Rồi về sau, Thắng không thấy nàng khỏa thân thiền định nữa, mà chỉ mặc cái áo sơ mi trắng mỏng tanh, thấy rõ mồn một bộ ngực nõn nà. Nàng vẫn say mê thiền định mỗi sớm mai, luôn luôn ngồi hướng mắt về hướng sao Mai mới mọc và không quên đọc câu thần chú “Án ma ni bát di hồng” bảy lần trước khi nhập thiền. Có lần Thắng cáu gắt: “Tu hành gì kỳ, ma không ma, Phật không Phật”… Tức chết, cám treo heo nhịn! Thắng bỗng tự ghen tức với nàng sao Mai rực rỡ trên trời khuya. Hắn ước gì mình trở thành ngôi sao Mai nhỏ xíu nhưng sáng rực rỡ để được hành giả Diệu Ngọc hướng tầm mắt xanh về đó mà công phu, chiêm bái!

Mặc cho miệng đời, Diệu Ngọc vẫn an nhiên chìm sâu vào cõi riêng của nàng, có khi quên cả nắng lên, quên cả ăn uống. Thắng chỉ dám rón rén đến, đặt cạnh nàng ly nước lã trong suốt và nói nhẹ bên tai: “Nắng lên rồi, cô xả thiền về am nghỉ đi!”. Nhưng nàng nào có nghe. Nàng để mặc cho làn da trắng nỏn của mình phơi dưới cái nắng chói chang của núi rừng, có khi là trơ ra với những đợt mưa lạnh lùng từ trên cao đổ xuống.

Và nàng cứ ngồi như thế đã nhiều năm rồi. Bọn sinh viên Khoa Xã hội học nghe tiếng, lên núi tận mắt chứng kiến cảnh tượng ấy, bèn gọi nàng là Thánh Cô, ý muốn ví nàng với Nhậm Doanh Doanh trong Tiếu Ngạo Giang Hồ chăng? Còn các thầy tu trẻ từ các ngôi chùa quanh chân núi Dinh lên chứng kiến cảnh giới thiền định “bất khả tư nghì” của nàng thì gọi là nàng là Ma Nữ. 

Rồi một hôm, khi Thắng từ dưới núi quảy gạo lên thăm Thánh Cô thì không thấy nàng tọa thiền trong am nữa. Chạy ra bãi đáp trực thăng thì thấy Thánh Cô đã chỉ còn là một cái xác khô gầy đét như con mắm. Cái xác ấy khô khan nhưng không thối rữa, không mục nát, nhưng hiện hữu với nụ cười rạng rỡ như đóa hoa hàm tiếu. Bất giác, Thắng quỳ xuống sụp lạy cái nhục thân ấy, vì hắn trông thấy rõ ràng một vầng hào quang thanh khiết tỏa ra từ nhục thân khô cứng kia.

Nghe tiếng động sau lưng, Thắng quay lại thì một anh Công an xã đứng sau lưng mình. Anh ấy nói:

- Tôi lên đây để báo tin cho cô Diệu Ngọc biết là Công an đã điều tra, tìm được người đánh cắp tượng Bồ tát Quan Âm cách đây nhiều năm. Người đó đang công quả trong thiền viện gần đây và đã có nhiều tiền án.

Thắng bồi hồi:

- Anh nói với cái xác của cô ấy đi. Giờ thì cô ấy đâu còn bận tâm đến chuyện thiện ác, tốt xấu nữa…             

                                                                                                PHAN CÁT TƯỜNG

--------------------------------------                

 Cám ơn                                                                                                                             


     Cám ơn em, một nụ cười

     Để tôi còn biết cõi người đáng yêu

     Cám ơn em, vạt nắng chiều

     Để tôi thấy được gió hiu hiu buồn.


 Chén ly bôi      

                                                                                                                                                       Ly rượu đắng, mềm lòng người viễn xứ

Cũng như em mềm mỏng giữa đời tôi

Trên tất cả, tôi yêu điều cay nghiệt

Chỉ vì tôi trót cạn chén ly bôi...

 Cà phê 

                                                                                                                                                          Sóng sánh giọt đen

Em buồn, vai trắng

Cà phê giọt đắng

Môi em ngọt ngào

Tỉnh giấc chiêm bao

Sầu như cỏ dại

Mùa xưa trở lại

Không thấy em về...


 Bắt gặp

                                                                                                                                                Chợt điệu đàng trong phút giây phiêu lãng

Sao già rồi cứ ngỡ tuổi đôi mươi?

Xúng xính mắt môi, soi gương rồi chợt khóc

Nếp nhăn nào thiêu đốt trái tim côi!


Tôi yêu mãi những vết sầu kỷ niệm

Lưu bút học trò làm kinh Thánh đêm đêm

Tôi yêu lại tà áo dài tha thướt

Mà ngày xưa em, đứng đón bên thềm.







Sao mình bỗng ngu ngơ, khù khờ trẻ nít

Yêu con diều mùa gió chướng đứt dây

Yêu con dế như ngày xưa, trốn mẹ

Chạy ra đồng mơn trớn tuổi thơ bay.


Rồi chôn cất, giấu tình sầu kỷ niệm

Giả vờ như chưa vỡ trái tim đau

Giữa cơn mưa tôi trần truồng tắm bụi

Ôm em thì thầm tóc ướt, mắt se cay…


Tôi đón lấy mùa về như chiếc lá 

Treo trên cành đùa giỡn gió Thu sang

Không hề biết ngày mai rồi sẽ chết

Chỉ buông mình như một thoáng mênh mang.


Khi trở về rừng rú đã tan hoang

Tôi đứng khóc theo mùa màng cây trái

Trời đất cằn khô ai oằn mình chịu tội

Giọt máu nào không đủ tưới xanh rêu?


Người không biết và sẽ không bao giờ biết…

Ngày mai này mình sẽ trở về đâu

Tuổi thơ ơi, xin một lần tạ tội

Xin cúi đầu hứng lấy cuộc bể dâu!