ĐƯỜNG VỀ CÕI MỘNG
“Cõi mộng” thường được
xem như một triết lý thuần túy phương Đông. Trang Tử nói mộng, Lý Bạch nói
mộng, kinh Phật thì bàng bạc cõi mộng:
Nhất thiết hữu vi pháp
Như mộng, huyễn, bào, ảnh
Như lộ, diệc như điển
Ưng tác như thị quán.
(Kinh
Kim Cang)
Dịch
Tất cả pháp hữu vi
Như mơ, như ảo, như bọt, như bóng
Như sương và như chớp
Nên quán sát như vậy.
Nhưng không vì
thế mà mộng được xem là “đặc quyền” của triết học phương Đông. Ở trời Tây, các
vị tổ khai sáng triết học phương Tây cũng nhìn trần gian là một giấc mộng miên
trường.
MỘNG CỦA PLATON
Platon (427-347
TCN) là một cây đại thụ của triết học Hy Lạp cổ đại. Cùng với thầy là Socrates
và học trò là Aristoteles, Platon đã xây dựng được nền móng vững chắc cho ngôi
nhà triết học Tây phương mà bóng đổ của nó vẫn là niềm kiêu hảnh của hơn một
nửa nhân loại cho đến hôm nay.
Nếu như Socrates
là “người không lồ” - với chén thuốc độc trên tay - đã dám bẽ cong con đường
Triết học cổ đại từ phía thần linh về phía con người với tư tưởng “Hãy tự biết
chính mình”, thì Platon lại làm một việc có vẻ như thách đố với thầy mình.
Platon nhìn trần
gian là cõi mộng.Tất cả chỉ là cái bóng mờ của sự hiện hữu phía sau lưng con
người.“Chân lý nằm ở góc khuất phía sau”…Tư
tưởng này đã được Platon gửi gấm trong “Dụ ngôn về cái hang” ở tập thứ 7 của
“The Republic” (Cộng hoà), tác phẩm tiêu biểu của ông. Đây là đoạn đối thoại về
bản chất của sự nhận thức pháp giới mà Platon đã mượn lời nói của Socrates và
Glaucon để minh họa cho tư tưởng mình.
“Socrates: Và giờ – tôi nói
– để tôi trưng ra một hình ảnh cho thấy bản chất của chúng ta là được khai sáng
hay không được khai sáng tới đâu: Nhìn kìa! loài người sống trong một cái hang
dưới lòng đất, miệng hang mở, hướng về phía ánh sáng và ánh sáng chiếu dọc theo
hang; họ đã sống tại đây từ bé, chân cũng như đầu bị xích nên không thể cử
động, và chỉ có thể nhìn ra phía trước mặt, vì xích ngăn không cho họ ngoái
đầu. Ở trên cao và phía sau họ, phía xa xa, là một ngọn lửa bập bùng, giữa ngọn
lửa và các tù nhân có một lối đi nhô lên, và anh sẽ thấy, nếu nhìn kỹ, có một
bức tường thấp xây dọc theo lối đi ấy, giống như bức màn mà những người diễn
rối vẫn có trước mặt họ, qua đó họ biểu diễn rối cho chúng ta xem.
Glaucon: Tôi thấy.
Socrates: Và anh có thấy –
tôi nói – có những người đi dọc theo bức tường, đem theo đủ các loại bình,
tượng cũng như hình thú vật làm từ gỗ, đá, và nhiều chất liệu khác, những hình
ảnh này hiện ra bên kia bức tường? Một vài người đang trò chuyện, một số khác
thì im lặng.
Glaucon: Anh đã cho tôi
xem một hình ảnh kỳ lạ, và những tù nhân này cũng kỳ lạ.
Socrates: Giống chúng ta
thôi – tôi đáp; và họ chỉ thấy bóng của chính mình, hoặc bóng của nhau, do ánh
lửa hắt lên bức tường đối diện của cái hang? (1)
Platon quan niệm rằng con người luôn bị trói
buộc trong những điều kiện hữu hạn về
nhận thức. Họ chỉ có thể nhìn thấy một phía giống như những tù nhân
trong lòng đất, chỉ thấy được cái bóng của mọi vật hắt lên bức tường trước mặt
mà không hay biết về bản chất thực của chúng. Vì thế tất cả những gì mà con
người cảm nhận được chỉ là thế giới ảo mà thôi.
Một cõi mộng sinh ra từ nhân duyên: Lục căn
tiếp xúc với lục trần sinh ra lục thức. Đó là một đường thẳng được định dạng
bởi nghiệp thức của con người. Platon đã ví con đường này là con đường hầm giam
hãm nhận thức, khiến người ta không thoát ra khỏi cái thấy biết trong vọng
tưởng của mình.Và như thế, con người luôn sống trong cõi mộng, bỏ lại cõi thực
của những “Idea” (thuật ngữ chỉ chân lý tuyệt đối của Platon) ở phía sau lưng
mình.
Platon đã đặt con người giữa hai bức tường
hư ảo. Một bên là bức tường với những “Form” mô thức, là con rối với những hình
nộm được dựng nên từ những “Idea”. Bên kia là cái bóng của con rối với những
“Illusion” (ảo ảnh), chỉ là cái minh hoạ khiếm khuyết của con rối bên này.
MỘNG CỦA TRANG
TỬ
Gần một thế kỷ sau Platon, Trang Tử của
phương Đông cũng đã diễn tả cõi mộng của mình bằng “Trang Chu mộng hồ điệp”,
một đoạn văn bất hủ trong thiên Tề Vật luận của Nam Hoa Kinh:
“Tích
giả
Trang Chu mộng vi hồ điệp
Hủ hủ nhiên hồ điệp dã
Tự du thích chí dư
Bất tri Chu chi mộng vi hồ điệp dư
Hồ điệp chi mộng vi Chu
dư
Chu dữ hồ điệp tắc tất hữu phận hĩ
Thử chi vị vật hoá.”(2)
Dịch
Ngày
kia
Trang Chu nằm mộng thấy mình hóa bướm
Bướm bay
phấp phới
Thích thú vô cùng
Tỉnh dậy
Không biết Chu
hóa bướm
Hay bướm hóa Chu
Đó là vật hóa.
Khi Trang Tử vừa tỉnh mộng thì lại lững lơ
giữa mộng và thực, không biết là Chu đã hoá thành bướm hay bướm đã hoá thành Chu . Trang Tử bay qua lại giữa “Bướm” và “Chu ”. Platon lững lờ giữa “Form” và
“Illusion”. Hai triết gia Đông Tây có thể chưa một lần gặp mặt nhưng
thẳm sâu trong tư tưởng mỗi người là một bầu trời hiu hắt của giấc mộng tồn
sinh.
MỘNG CỦA DUY MA
CẬT
Nhưng đó không phải là hai nhà hiền triết cô
độc trên hành trình “Mộng” và “Thực”. Bên cạnh họ còn có Duy Ma Cật, một vị Bồ
Tát ẩn danh đã xuất hiện cùng thời với đức Phật và khai thị cho hàng đại đệ tử
của Phật bằng sự im lặng sấm sét (mặc như lôi).Trong phẩm Đệ tử (thứ 3), Ngài
Tu Bồ Đề kể lại câu chuyện khiến ông không thể đến thăm bệnh Duy Ma Cật.
“Duy Ma Cật nói: Ông Tu Bồ Đề, xin ngài hãy cầm lấy bát,
đừng sợ. Ý ngài nghĩ sao, như đức Như Lai có tạo ra những người ảo hóa, nếu tôi
đem việc ấy mà hỏi ngài, ngài có sợ chăng?’ Con đáp lại: ‘Không sợ.’ Duy Ma Cật
liền nói: “Tất cả các pháp dường như
tướng ảo hóa, nay ngài không nên sợ chi cả. Tại sao vậy? Tất cả lời nói cũng chẳng lìa khỏi tướng ảo hóa ấy”.(3)
Platon với “Dụ
ngôn về cái hang” đã phơi bày thân phận con người trong thế giới của những cái
bóng mờ hư ảo. Trang Tử với “Mộng hồ điệp” đã đánh thức con người rằng cuộc đời
chỉ là chuyện phù du trong giấc mơ của một cánh bướm mà thôi. Và Bồ tát Duy Ma
Cật qua đối thoại với Tu Bồ Đề đã ra tuyên bố: “Tất cả các pháp dường như tướng
ảo hóa” để đưa con người ra khỏi
tham đắm, si mê.
Phải chăng Platon
cùng với Trang Tử và Duy Ma Cật đã cùng nhau viết lên một bản kinh về thực
tướng của pháp giới mà mỗi người trong chúng ta cần phải đọc tụng hàng ngày.
Phan Cát
Tường
(1)
- Bản dịch
từ tiếng Anh của Benjamin Jowett , nhà
xuất bản Vintage, 1991.
(2)
- Tề vật
luận (Nam
Hoa Kinh)
(3)
- Phẩm Đệ
tử (Duy Ma Cật kinh do Đoàn Trung Còn & Nguyễn Minh Tiến dịch từ bản Hán
văn)



