ALBERT CAMUS – PHIỀN NÃO TỨC THỊ BỒ ĐỀ
Albert Camus (1913-1960) là một trong những đỉnh cao của
phong trào triết hiện sinh (Existentialism) phương Tây vào những năm
đầu thế kỷ 20. Ông được trao giải thưởng văn chương năm 1957 vì các sáng tác
văn học của ông “đã đưa ra ánh sáng những vấn đề đặt ra cho lương tâm loài
người ở thời đại chúng ta”, theo quan điểm của Hội đồng chấm giải Nobel lúc
bấy giờ.
Sáng tác văn học của Albert Camus khá phong phú. L’Étranger
(Người xa lạ - 1942), La Peste (Dịch hạch – 1947), La Chute (Sa đọa - 1956),…là
những tiểu thuyết rất quen thuộc của giới yêu văn chương, triết học. Tuy nhiên,
tác phẩm gây ấn tượng mạnh cho độc giả lại là tập tiểu luận Le Mythe de Sisyphe
(Huyền thoại của Sisyphe – 1942). Đây là quyển sách nhỏ, nhưng giá trị tư tưởng
của nó thật mãnh liệt, góp phần đưa ông lên vị trí đại diện cho phong trào hiện
sinh và xứng đáng nhận giải thưởng Nobel.
Albert Camus là
triết gia có công lớn nhất trong việc phơi bày thân phận con người, thân phận của
sự đoạ đày, hẩm hiu và cô đơn tột cùng. Nhưng điều quan trọng hơn hết là ông đã
tìm ra được chiếc chìa khoá để hoá giải thân phận đó ngay trong chỗ bế tắc nhất
của đời sống con người, như triết lý “Tịnh độ nhân gian” của nhà Phật.
Sisyphe (nhân vật
thần thoại Hy Lạp) trong Le Mythe de Sisyphe là một đại diện cho con người tội
lỗi chốn trần gian. Con người ấy khi còn ở trên mặt đất đã từng làm vua thành Corinth , nhưng là một vị
vua tham lam, tàn bạo và luôn phỉ báng thần linh. Thần Zeus đã bắt ông đày
xuống địa ngục Tartarus, một kiểu “Vô gián địa ngục” trong kinh Địa Tạng. Nơi
đây Sisyphe chịu một hình phạt kỳ lạ: Hằng ngày, ông phải đẩy một khối đá khổng
lồ lên đỉnh núi, sau đó thả tảng đá lăn xuống phía dưới, rồi trở xuống chân núi
tiếp tục đẩy tảng đá đó lên. Cứ đẩy lên, thả xuống như thế từ năm này qua tháng
nọ không lúc nào ngưng nghỉ. Địa ngục Tartarrus đã giam hãm linh hồn Sisyphe.
Các thần linh cười nhạo ông. Quỷ sứ canh gác ông nghiêm nhặt.
Tuy hình phạt xãy
ra ở chốn địa ngục tăm tối, nhưng Sisyphe lại là hình ảnh của một thân phận con
người ở chốn trần gian có ánh sáng mặt trời, nắng hồng, biển xanh và gió mát. Ở
nơi này, phải chăng mỗi một con người trong chúng ta hằng ngày vẫn đẩy lên phía
trên mình một tảng đá nặng của lòng tham tiền tài, danh vọng? Hoặc là tảng đá nặng
của lòng thù hận, ghét ganh? Hay là tảng đá nặng của của sự vô minh vọng chấp?
Vâng, tảng đá của chúng ta cứ được đẩy lên, thả xuống như thế mà con người vẫn
cố sức chịu đựng cho qua một kiếp phù sinh.
Tuy nhiên, dưới
con mắt Thiền thì Sisyphe lại là đại diện cho một hành giả công phu miên mật
trong hành trình tìm về tự tánh của mình. Việc đẩy tảng đá lên núi và buông cho
nó lăn trở về không khác gì một hành giả thực tập phép Quán Sổ tức. Tận cùng
của hơi thở ra là sự hít vào. Tận cùng của sự hít vào chính là hơi thở ra. Hít
vào và thở ra. Đẩy đá lên và buông đá xuống. Hai thủ pháp này không khác nhau
về mặt bản chất.
Hành giả thực tập
Thiền quán khi đến giai đoạn chín muồi, có thể “trong quên thân, ngoài quên cảnh”, trong ngoài đều quên như diễn
tả của vòng tròn Viên giác trong Thập Mục Ngưu Đồ. Cũng như thế, suốt hành
trình đẩy tảng đá lên núi, cuộc đời đối với Sisyphe thật
hoàn hảo. Chỉ khi ở khoảnh khắc không còn vận hành tảng đá, tức thời
điểm quay xuống chân núi là khoảnh khắc “xả thiền” của Sisyphe, và hắn chạm
phải khổ đau ngay tức thì. Camus viết : “Chính
trong giờ khắc quay trở lại đó, tạm dừng đó, Sisyphe làm tôi chú ý”. Đó là
thời điểm hoạt động của ý thức và Camus đã thấy được sự suy nghĩ và cảm nhận
đau khổ của Sisyphe. Ông viết tiếp: “Nếu
huyền thoại này là một bi kịch, đó là vì người anh hùng của nó có ý thức!.
Vâng, đây là điểm
đặc sắc nhất của Albert Camus: Con người chỉ đau khổ khi sống trên bình diện ý
thức, cũng như Sisyphe chỉ cảm nhận đau khổ trong lúc nhàn rỗi đi trở về chân
núi. Còn trong lúc tinh thần tập trung đẩy tảng đá, không gì có thể làm trở
ngại sự hạnh phúc của một Sisyphe trong chánh định. Đó là sự tự tại của một chú
rùa ngủ Đông, không biết đến cái giá rét của miền Bắc cực. Hay là sự tự tại của
một bầy ngựa hoang băng mình qua cánh đồng cỏ non, không biết đến cái nắng chói
chang của miền xích đạo.
Chân lý càng rõ
ràng hơn khi Albert Camus quyết định kết thúc tập tiểu luận Le Mythe de Sisyphe
bằng một cái nhìn toàn bích: “Vũ trụ này từ nay trở đi không có thần linh nào tuyên
xưng làm chủ, nhưng đối với ông không phải là khô chết vô sinh, cũng chẳng vô
ích. Mỗi hạt của khối đá đó, mỗi mảnh chất khoáng của ngọn núi đầy đêm tối đó,
với chỉ riêng ông, hình thành một thế giới. Cuộc đấu tranh chính nó hướng tới
những đỉnh cao đủ để làm đầy trái tim của một người. Người ta phải hiểu rằng
Sisyphe hạnh phúc”. (1)
Giây
phút đại ngộ của Sisyphe không khác giây phút đại ngộ của Siddhartha trong “Câu chuyện của dòng sông” (Hermann Hesse). Khi đó, mỗi âm thanh của
con sóng vỗ đều trở thành tiếng “Aum” mầu nhiệm và gương mặt người lái đò già
quen thuộc hàng ngày bổng trở nên thánh thiện như một vị Bồ tát.
Thì ra ở bất cứ
hoàn cảnh nào, nếu người ta hành xữ trong cái vô tâm (nơi tâm vô sự, nơi sự vô tâm – Đức Sơn Tuyên Giám) thì đều là chỗ
giải thoát. Đó là chỗ rốt ráo của mọi thứ công phu mà Lục Tổ Huệ Năng đã đã
tuyên thuyết rõ ràng ở phẩm thứ 9 (Tuyên Chiếu) trong Pháp Bảo Đàn kinh:
“…Tiết Giản thưa: Sáng dụ cho trí tuệ, tối dụ
cho phiền não, người tu đạo như chẳng dùng trí tuệ chiếu phá phiền não thì cái
sanh tử từ vô thủy nương vào đâu mà ra khỏi.
Tổ bảo: Phiền não tức thị Bồ-đề, không hai,
không khác, nếu dùng trí tuệ chiếu phá phiền não, đây là kiến giải của hàng Nhị
thừa, căn cơ xe nai xe dê, còn những bậc thượng trí đại căn, ắt không như thế!”(2)
“Phiền não thức thị Bồ đề” là lời dạy cốt tuỷ của Lục Tổ trong phẩm Tuyên Chiếu. Lời dạy
này để đối trị với kiến giải “Sáng dụ cho
trí tuệ, tối dụ cho phiền não” của quan Nội thị Tiết Giản do vua Đường
Trung Tông và Võ Tắc Thiên phái đến.
Albert Camus đã kiến giải được con
đường hạnh phúc của mỗi người thông qua thân phận của Sisyphe, dù đó là thân
phận bị đoạ đày chốn địa ngục. Sysiphe cuối cùng đã thấy được thiên đàng chốn
địa ngục, như cây Bồ đề đã nở hoa trên mãnh đất phiền não vốn âm u chôn chặt
kiếp người.
PHAN
CÁT TƯỜNG
(1): Le Mythe de
Sisyphe (Huyền thoại của Sisyphe – 1942)
(2): Pháp Bảo Đàn
Kinh (Phẩm Tuyên Chiếu)




