Thứ Ba, 22 tháng 10, 2013


ALBERT CAMUS – PHIỀN NÃO TỨC THỊ BỒ ĐỀ

Albert Camus (1913-1960) là một trong những đỉnh cao của phong trào triết hiện sinh (Existentialism) phương Tây vào những năm đầu thế kỷ 20. Ông được trao giải thưởng văn chương năm 1957 vì các sáng tác văn học của ông “đã đưa ra ánh sáng những vấn đề đặt ra cho lương tâm loài người ở thời đại chúng ta”, theo quan điểm của Hội đồng chấm giải Nobel lúc bấy giờ.
Sáng tác văn học của Albert Camus khá phong phú. L’Étranger (Người xa lạ - 1942), La Peste (Dịch hạch – 1947), La Chute (Sa đọa - 1956),…là những tiểu thuyết rất quen thuộc của giới yêu văn chương, triết học. Tuy nhiên, tác phẩm gây ấn tượng mạnh cho độc giả lại là tập tiểu luận Le Mythe de Sisyphe (Huyền thoại của Sisyphe – 1942). Đây là quyển sách nhỏ, nhưng giá trị tư tưởng của nó thật mãnh liệt, góp phần đưa ông lên vị trí đại diện cho phong trào hiện sinh và xứng đáng nhận giải thưởng Nobel.
Albert Camus là triết gia có công lớn nhất trong việc phơi bày thân phận con người, thân phận của sự đoạ đày, hẩm hiu và cô đơn tột cùng. Nhưng điều quan trọng hơn hết là ông đã tìm ra được chiếc chìa khoá để hoá giải thân phận đó ngay trong chỗ bế tắc nhất của đời sống con người, như triết lý “Tịnh độ nhân gian” của nhà Phật.
Sisyphe (nhân vật thần thoại Hy Lạp) trong Le Mythe de Sisyphe là một đại diện cho con người tội lỗi chốn trần gian. Con người ấy khi còn ở trên mặt đất đã từng làm vua thành Corinth, nhưng là một vị vua tham lam, tàn bạo và luôn phỉ báng thần linh. Thần Zeus đã bắt ông đày xuống địa ngục Tartarus, một kiểu “Vô gián địa ngục” trong kinh Địa Tạng. Nơi đây Sisyphe chịu một hình phạt kỳ lạ: Hằng ngày, ông phải đẩy một khối đá khổng lồ lên đỉnh núi, sau đó thả tảng đá lăn xuống phía dưới, rồi trở xuống chân núi tiếp tục đẩy tảng đá đó lên. Cứ đẩy lên, thả xuống như thế từ năm này qua tháng nọ không lúc nào ngưng nghỉ. Địa ngục Tartarrus đã giam hãm linh hồn Sisyphe. Các thần linh cười nhạo ông. Quỷ sứ canh gác ông nghiêm nhặt.
Tuy hình phạt xãy ra ở chốn địa ngục tăm tối, nhưng Sisyphe lại là hình ảnh của một thân phận con người ở chốn trần gian có ánh sáng mặt trời, nắng hồng, biển xanh và gió mát. Ở nơi này, phải chăng mỗi một con người trong chúng ta hằng ngày vẫn đẩy lên phía trên mình một tảng đá nặng của lòng tham tiền tài, danh vọng? Hoặc là tảng đá nặng của lòng thù hận, ghét ganh? Hay là tảng đá nặng của của sự vô minh vọng chấp? Vâng, tảng đá của chúng ta cứ được đẩy lên, thả xuống như thế mà con người vẫn cố sức chịu đựng cho qua một kiếp phù sinh.
Tuy nhiên, dưới con mắt Thiền thì Sisyphe lại là đại diện cho một hành giả công phu miên mật trong hành trình tìm về tự tánh của mình. Việc đẩy tảng đá lên núi và buông cho nó lăn trở về không khác gì một hành giả thực tập phép Quán Sổ tức. Tận cùng của hơi thở ra là sự hít vào. Tận cùng của sự hít vào chính là hơi thở ra. Hít vào và thở ra. Đẩy đá lên và buông đá xuống. Hai thủ pháp này không khác nhau về mặt bản chất.
Hành giả thực tập Thiền quán khi đến giai đoạn chín muồi, có thể “trong quên thân, ngoài quên cảnh”, trong ngoài đều quên như diễn tả của vòng tròn Viên giác trong Thập Mục Ngưu Đồ. Cũng như thế, suốt hành trình đẩy tảng đá lên núi, cuộc đời đối với Sisyphe  thật  hoàn hảo. Chỉ khi ở khoảnh khắc không còn vận hành tảng đá, tức thời điểm quay xuống chân núi là khoảnh khắc “xả thiền” của Sisyphe, và hắn chạm phải khổ đau ngay tức thì. Camus viết : “Chính trong giờ khắc quay trở lại đó, tạm dừng đó, Sisyphe làm tôi chú ý”. Đó là thời điểm hoạt động của ý thức và Camus đã thấy được sự suy nghĩ và cảm nhận đau khổ của Sisyphe. Ông viết tiếp: “Nếu huyền thoại này là một bi kịch, đó là vì người anh hùng của nó có ý thức!.
Vâng, đây là điểm đặc sắc nhất của Albert Camus: Con người chỉ đau khổ khi sống trên bình diện ý thức, cũng như Sisyphe chỉ cảm nhận đau khổ trong lúc nhàn rỗi đi trở về chân núi. Còn trong lúc tinh thần tập trung đẩy tảng đá, không gì có thể làm trở ngại sự hạnh phúc của một Sisyphe trong chánh định. Đó là sự tự tại của một chú rùa ngủ Đông, không biết đến cái giá rét của miền Bắc cực. Hay là sự tự tại của một bầy ngựa hoang băng mình qua cánh đồng cỏ non, không biết đến cái nắng chói chang của miền xích đạo.
Chân lý càng rõ ràng hơn khi Albert Camus quyết định kết thúc tập tiểu luận Le Mythe de Sisyphe bằng một cái nhìn toàn bích: Vũ trụ này từ nay trở đi không có thần linh nào tuyên xưng làm chủ, nhưng đối với ông không phải là khô chết vô sinh, cũng chẳng vô ích. Mỗi hạt của khối đá đó, mỗi mảnh chất khoáng của ngọn núi đầy đêm tối đó, với chỉ riêng ông, hình thành một thế giới. Cuộc đấu tranh chính nó hướng tới những đỉnh cao đủ để làm đầy trái tim của một người. Người ta phải hiểu rằng Sisyphe hạnh phúc”. (1)
Giây phút đại ngộ của Sisyphe không khác giây phút đại ngộ của Siddhartha trong “Câu chuyện của dòng sông” (Hermann Hesse). Khi đó, mỗi âm thanh của con sóng vỗ đều trở thành tiếng “Aum” mầu nhiệm và gương mặt người lái đò già quen thuộc hàng ngày bổng trở nên thánh thiện như một vị Bồ tát.
Thì ra ở bất cứ hoàn cảnh nào, nếu người ta hành xữ trong cái vô tâm (nơi tâm vô sự, nơi sự vô tâm – Đức Sơn Tuyên Giám) thì đều là chỗ giải thoát. Đó là chỗ rốt ráo của mọi thứ công phu mà Lục Tổ Huệ Năng đã đã tuyên thuyết rõ ràng ở phẩm thứ 9 (Tuyên Chiếu) trong Pháp Bảo Đàn kinh:
“…Tiết Giản thưa: Sáng dụ cho trí tuệ, tối dụ cho phiền não, người tu đạo như chẳng dùng trí tuệ chiếu phá phiền não thì cái sanh tử từ vô thủy nương vào đâu mà ra khỏi.
Tổ bảo: Phiền não tức thị Bồ-đề, không hai, không khác, nếu dùng trí tuệ chiếu phá phiền não, đây là kiến giải của hàng Nhị thừa, căn cơ xe nai xe dê, còn những bậc thượng trí đại căn, ắt không như thế!”(2)
          “Phiền não thức thị Bồ đề” là lời dạy cốt tuỷ  của Lục Tổ trong phẩm Tuyên Chiếu. Lời dạy này để đối trị với kiến giải “Sáng dụ cho trí tuệ, tối dụ cho phiền não” của quan Nội thị Tiết Giản do vua Đường Trung Tông và Võ Tắc Thiên phái đến.
          Albert Camus đã kiến giải được con đường hạnh phúc của mỗi người thông qua thân phận của Sisyphe, dù đó là thân phận bị đoạ đày chốn địa ngục. Sysiphe cuối cùng đã thấy được thiên đàng chốn địa ngục, như cây Bồ đề đã nở hoa trên mãnh đất phiền não vốn âm u chôn chặt kiếp người.
PHAN CÁT TƯỜNG

(1): Le Mythe de Sisyphe (Huyền thoại của Sisyphe – 1942)

(2): Pháp Bảo Đàn Kinh (Phẩm Tuyên Chiếu)

Thứ Năm, 17 tháng 10, 2013

TỪ  “NGỌC NỮ TÂM KINH” ĐẾN “BÁT NHÃ TÂM KINH”

Ngọc Nữ Tâm Kinh là tuyệt kỹ công phu của phái Cổ Mộ trong Thần Điêu Đại Hiệp (quyển thứ hai trong trong Xạ Điêu Tam Bộ Khúc, gồm 3 quyển của nhà văn Kim Dung).
Mục tiêu của Ngọc Nữ Tâm Kinh là khắc chế võ công của Toàn Chân giáo, là một giáo phái lớn của Bắc tông Đạo giáo do Vương Trùng Dương làm giáo chủ.
Tổ sư khai sáng Ngọc Nữ Tâm Kinh là Lâm Triều Anh, cũng là “người tình lỗi hẹn” của Vương Trùng Dương thuở thiếu thời.Từ “tình yêu” chuyển sang “tình thù”, người đàn bà này mới quyết tâm sáng chế Ngọc Nữ Tâm Kinh để hoá giải võ công của người gây ra mối hận tình.
Để đạt công phu thượng thừa, hành giả của Ngọc Nữ Tâm Kinh phải luyện thành công Toàn Chân kiếm pháp,Cổ Mộ kiếm pháp và hoàn toàn nhập thất tại sơn trang Cổ Mộ trong thời gian luyện công. Hành giả phải luyện cặp đôi nam - nữ  trong điều kiện khoả thân để giải thoát nguồn năng lượng thừa ra ngoại biên, nếu không chúng sẽ thâm nhập nội tạng, gây tẩu hoả nhập ma.
Nguyên tắc của Ngọc Nữ Tâm Kinh là âm dương hài hoà theo tiến triển của 12 quẻ tương ứng với 12 tháng trong kinh Dịch. Âm triển, dương thoái. Âm thoái, dương triển. Dương triển thì hành giả có thể ngừng nghỉ, nhưng âm triển thì phải triển đến vô cực, nếu gián đoạn sẽ gây tắc khí dẫn đến tử vong.
Đó chỉ là phần “Hiển” của Ngọc Nữ Tâm Kinh, còn phần “Mật” thì sao? Lâm Triều Anh khai sáng ra loại công phu này  không chỉ một dụng ý đối đầu với Toàn Chân giáo. Sư bà vì đã nếm trải đau khổ trong cuộc tình với Vương Trùng Dương nên muốn cho đệ tử Cổ Mộ phải học được tinh thần Vô nhiễm khi đối đầu với sắc dục.
Hành giả khi khoả thân trước đối tượng đầy nhục cảm, rất dễ bị chao đảo do cảm ứng âm-dương. Vì thế, họ cần định tâm trong từng sát na để tịnh hoá tâm hồn.
            Vì lẽ đó, Lâm Triều Anh đã đặt tên tuyệt kỹ này là Ngọc Nữ Tâm Kinh để nhấn mạnh yếu tố “Tâm” trong phép luyện công này. Chữ “Kinh” nhắc nhở hành giả đây là lời dạy của bậc tiền bối về sự giữ mình trong sạch.
            Điểm đặc sắc của Ngọc Nữ Tâm Kinh là không chỉ hoá giải chiêu thức của đối phương mà khi hai đối thủ kết hợp chiêu thức nhau (Ngọc Nữ Tâm Kinh phối chiến với Toàn Chân kiếm) sẽ tạo ra một tường thành vững chắc trong trận địa Song Kiếm Hợp Bích với kẻ thứ ba. Kiếm pháp phối hợp này được gọi là Ngọc Nữ Tố Tâm kiếm pháp (kiếm pháp Ngọc Nữ với tâm niệm trong sạch) làm kinh hoàng đối thủ.
            Có lẻ nhà văn Kim Dung lấy cảm hứng từ triết lý Bát Nhã Tâm Kinh của Phật giáo Đại thừa để sáng tác Ngọc Nữ Tâm Kinh chăng?
            Trong khi Bát Nhã Tâm Kinh nhấn mạnh đến Tánh Không của vạn pháp thì Ngọc Nữ Tâm Kinh hướng đến triết lý Vô Nhiễm, là một hình thái trong công phu Bát Nhã.
            Trong khi Bát Nhã Tâm Kinh phối hợp Không với Sắc thì Ngọc Nữ Tâm Kinh phối hợp chiêu thức bổn môn với chiêu thức đối phương để làm ra trận địa chiến Song Kiếm Hợp Bích như một bức tường kiếm vững chải.
            Trong khi Bát Nhã Tâm Kinh phủ định sự tồn tại của pháp tướng (Thị chư pháp không tướng, bất sanh, bất diệt, bất cấu, bất tịnh, bất tăng, bất giảm,…) để định nghĩa tánh Không thì Ngọc Nữ Tâm Kinh trút bỏ lớp vỏ bề ngoài (ngoại y) để nhận diện tâm mình.
            Trong khi Bát Nhã Tâm Kinh sử dụng thần chú: “Gate, gate. Pàragate. Pàrasagate. Bodhi svàhà.”(Vượt qua, vượt qua.Vượt qua bờ bên kia. Vượt qua hoàn toàn. Tuệ giác thành tựu” thì Ngọc Nữ Tâm Kinh sử dụng chiêu thức vượt qua cảm thọ chính bản thân mình  để trụ tâm nơi quỹ đạo kiếm pháp.
Có thể nói Kim Dung đã đồng hoá Ngọc Nữ Tâm Kinh  với Bát Nhã Tâm Kinh. Tác giả đã mượn tuyệt kỹ Cổ Mộ để kiến giải tư tưởng Đại thừa.
            Nơi đây, Tánh Không đã được đơn giản đến mức tối giản. Sự cởi bỏ xiêm y của Tiểu Long Nữ không khác sự rủ bỏ chuyện đời của một Thiền sư. Cặp nam nữ khoả thân trong tư thế đối diện nhau không khác cặp “Sắc-Không” trong “Không tức thị Sắc”. Và Song Kiếm Hợp Bích chính là triết lý “Nhị đế dung thông” (Chân đế - Tục đế hoà hợp) của Đại thừa Phật giáo.
            Những ai đã từng chiêm nghiệm Thần Điêu Hiệp Lữ hẵn cảm nhận triết lý nhà Phật phảng phất trong các tuyệt kỹ công phu của các nhân vật như: Dương Quá, Tiểu Long Nữ, Quách Tĩnh, Hoàng Dung, Vương Trùng Dương,…
            Nhưng có lẻ Ngọc Nữ Tâm Kinh là một đại diện xuất sắc nhất cho triết lý Bát Nhã mà nhà văn Kim Dung muốn gửi gắm đến người đọc.
PHAN CÁT TƯỜNG





                                                               

TÂM BẤT ĐIÊN ĐẢO

             “Ai Cập Tử thư” là một tác phẩm Triết học quan trọng của Ai Cập cổ đại. Đây là một tác phẩm luận giải về con đường của thân Trung ấm, tương đương với kiến giải của kinh Địa Tạng trong Phật giáo. Phần cuối của Tử thư này có câu chuyện đặc sắc mang tính thần thoại, nói về việc thần Osiris cõi Địa ngục sẽ cân trái tim người chết trước khi quyết định cảnh giới đầu thai.
           
Vị thần công chính có nhiệm vụ cân trái tim của người chết với 2 đầu cân, một bên là trái tim, bên kia là chiếc lông chim ưng thay cho quả cân. Nếu trái tim không giữ được thăng bằng với lông chim ưng thì linh hồn sẽ bị quái vật Ammit xé xác.
            Câu chuyện thần thoại này muốn nói đến trái tim, tức Tâm của một con người, nếu còn mang nặng những phiền não, tham dục thì người chết sẽ bị lưu đày nơi cảnh khổ. Trái tim phải nhẹ như lông chim. Con người phải chết với một tâm trạng nhẹ nhàng, thanh thản thì mới được sanh về chốn an lành. Đó là tất cả những gì mà Tử thư Ai Cập muốn nhắn nhủ đến con người từ gần 3.000 năm trước.
            Đó cũng là điều mà đạo Phật đề cập  nhiều lần trong các kinh điển của Tịnh độ như: kinh A Di Đà, kinh Quán Vô Lượng Thọ, kinh Vô Lượng Thọ,... Đặc biệt, trong kinh A Di Đà, Phật nói: “Thị nhơn chung thời tâm bất điên đảo, tức đắc vãng sanh Cực lạc quốc độ” (Người đó lúc mạng chung, nếu tâm không điên đảo, tức vãng sanh cõi Phật).
            “Tâm không điên đảo” để mà nhẹ tênh như chiếc lông chim ưng thì mới có thể bay theo Phật về cảnh giới Tịnh độ. Mà muốn “Tâm không điên đảo” thì ngay nơi cuộc sống này, con người phải buông xả  được mọi tham giận, si mê.
            Đó là nguyên tắc của luật nhân quả, không chỉ Phật nói mà các nền văn hoá lớn như Ai Cập, Hy Lạp,Trung Hoa,... cũng đều nói đến. Vấn đề là chúng ta hãy thực hành “Tâm không điên đảo” trong đời sống hàng ngày để khi chết đi, trái tim ta được nhẹ nhàng như chiếc lông chim vậy!
                                                                                                  Phan Cát Tường